Và nếu bạn đang băn khoăn về 07 vấn đề pháp lý về góp vốn vào doanh nghiệp, hãy đọc ngay nội dung sau nhé! 1. Đối tượng góp vốn. 2. Loại tài sản góp vốn. 3. Thời hạn góp vốn. 4. Vốn điều lệ. Dù vậy, nhiều doanh nghiệp tỏ ra thất vọng trước những giải pháp mang tính lý thuyết, chỉ nêu lên phần ngọn mà không xử lý đúng "gốc" vấn đề. Trao đổi với PV Báo Giao thông, một doanh nghiệp than rằng, cuộc đối thoại giữa liên bộ Bộ Công thương - Tài chính và Còn nhiều vấn đề pháp lý khác có liên quan đến bất động sản khu công nghiệp, chúng tôi sẽ tiếp cận, nghiên cứu làm sáng tỏ trong thời gian tới. 2. Các quy định có liên quan đến bất động sản khu công nghiệp trong pháp luật Việt Nam hiện nay. 5+ Vấn Đề Pháp Lý Dễ Gặp Khi Thành Lập Công Ty. Posted on Tháng Một 4, 2021 by ThuHa. 04. Th1. Thành lập công ty hay thành lập doanh nghiệp đã và đang được khuyến khích trong tiến trình Việt Nam hội nhập với bối cảnh toàn cầu hóa. Tuy nhiên, về mặt pháp lý thì mọi cá nhân Pháp luật thực định và thực tiễn hoạt động doanh nghiệp cho thấy, ngoài Luật Doanh nghiệp 2014, các vấn đề về tổ chức quản lý, hoạt động của doanh nghiệp, quyền và lợi ích của chủ sở hữu doanh nghiệp thường được quy định trong điều lệ doanh nghiệp, quy chế Hồng Ánh. Một trong những nguyên nhân chính khiến hoạt động đổi mới sáng tạo công nghệ chưa thực sự đạt được hiệu quả như mong muốn là vì các doanh nghiệp chưa nhận thức đúng và đủ về khung thể chế, pháp lý liên quan. Do đó, đây là lúc các doanh nghiệp cần nhìn tz69UF. Trong những năm gần đây, tranh chấp về hợp đồng tín dụng được Toà án thụ lý giải quyết ngày càng nhiều. Chủ đề “Các vấn đề pháp lý cần lưu ý liên quan đến tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý tài sản bảo đảm tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh” với mục đích nâng cao chất lượng xét xử, đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án đúng thời hạn cũng như nâng cao sự phối hợp giữa hệ thống Tòa án nhân dân với các tổ chức tín dụng nhằm góp phần giữ vững sự ổn định và phát triển kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Từ ngày 15/8/2017 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng có hiệu lực đến ngày 28/02/2021, Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng liên quan việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, đã giải quyết vụ việc, còn vụ việc chưa giải quyết, tỷ lệ giải quyết đạt 80,25%. Riêng tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ, giải quyết là vụ, tỷ lệ giải quyết đạt 60%. Nhìn chung, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nghiêm túc, thống nhất, đúng pháp luật, góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, đồng thời đảm bảo công tác cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử vẫn còn những khó khăn, vướng mắc như nhiều vụ án có thời gian giải quyết kéo dài vì tính chất phức tạp, nhiều đương sự tham gia hoặc đương sự ở nước ngoài phải ủy thác tư pháp, hoặc đương sự không hợp tác với Tòa án, vẫn còn một số vụ án bị hủy sửa liên quan đến vấn đề giao dịch bảo đảm… hoặc có những hồ sơ tín dụng bảo đảm ngay từ đầu không được chặt chẽ thậm chí là không thực hiện đúng quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm, vẫn cón một số hồ sơ đơn khởi kiện chưa đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc ủy quyền chưa hợp lệ, người vay hoặc bảo lãnh đã bỏ địa phương đi dâu không rõ… 1. Những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn giải quyết tranh chấp Việc thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn theo quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 Thông thường, các tổ chức tín dụng khởi kiện yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ, nhưng nguyên đơn không cung cấp được họ tên của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là những người thực tế đang quản lý, sử dụng tài sản đảm bảo này. Các tổ chức tín dụng yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bàn giao tài sản nhưng bị đơn không đến Tòa án theo giấy triệu tập, không hợp tác và không chấp nhận thực hiện nghĩa vụ bàn giao tài sản. Khi đó, Tòa án phải chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Như vậy, thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài, ảnh hưởng đến thời gian thực hiện lạicác thủ tục tố tụng. Việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp Trên thực tế, rất nhiều vụ án hợp đồng tín dụng có tranh chấp về thẩm quyền, nhiều vụ án được chuyển nhiều lần từ Tòa án quận, huyện này sang Tòa án quận, huyện khác, từ Tòa án quận, huyện đến Tòa án thành phố. Một trong những nguyên nhân đó là địa chỉ bị đơn thay đổi so với địa chỉ ghi trên hợp đồng dẫn đến các Thẩm phán lúng túng khi xác định thẩm quyền cũng như khó khăn trong việc tống đạt. Việc xác định tư cách tham gia tố tụng Liên quan đến vấn đề xử lý tài sản thế chấp là tòa nhà thương mại, chung cư hoặc bất động sản khác có nhiều người đang cư trú, theo quy định cần phải đưa những cư dân đang sinh sống trong chung cư, những tổ chức, cá nhân đang thuê để kinh doanh, mua bán hoặc đăng ký trụ sở… tại tòa nhà vào tham gia tố tụng với tưcách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên việc đưa những trường hợp nêu trên vào tham gia tố tụng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc dẫn đến vụ án giải quyết mất nhiều thời gian và chậm được giải quyết theo quy định. Bên cạnhđó, một số ban quản lý chung cư và tòa nhà không hợp tác nên rất khó để liên hệvới tất cả người liên quan để triệu tập tham gia tố tụng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Trong những vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng mà các tổ chức tín dụng đã bán các khoản nợ xấu cho các công ty mua bán nợ xấu thì trường hợp này quyền, nghĩa vụ kế thừa của họ từ những hợp đồng tín dụng như thế nào, việc xác định tư cách tham gia tố tụng cụ thể ra sao, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chỉ quy định việc kế thừa của Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản VAMC, còn các ông ty mua bán nợ khác chưa được pháp luật điều chỉnh cụ thể. Tính chất phức tạp của vụ án Phần lớn các tranh chấp hợp đồng tín dụngliên quan đến tài sản bảo đảm đều là các tranh chấp phức tạp, quá trình thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn, thời gian giải quyết kéo dài. Có nhiều vụ án ban đầu Tòa án chỉ thụ lý tranh chấp hợp đồng tín dụng nhưng sau đó phải thụ lý nhiều quan hệ pháp luật khác vì chính những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có yêu cầu độc lập, tranh chấp quyền sở hữu, quyền sử dụng đất là tài sản thế chấp trong vụ án. Hoặc trong quá trình giải quyết, Thẩm phán phát hiện Tòa án khác đang thụ lý tranh chấp quyền sở hữu nhà, tranh chấp quyền sử dụng đất là tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng dẫn đến phải nhập vụ án hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án chờ kết quả giải quyết từ những vụ án này. Trường hợp bị đơn là pháp nhân không còn hoạt động, Tòa án tiến hành xác minh, được biết người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có hộ khẩu thường trú ở tỉnh, nhưng khi xác minh địa chỉ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thì không có thực tế cư trú tại địa phương. Do đó, việc quy định tống đạt cho người đại diện theo pháp luật của pháp nhân gặp nhiều khó khăn và làm cho vụ án giải quyết không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Có trường hợp, hiện tại pháp nhân không còn thực tế hoạt động, người đại diện của pháp nhân chết nhưng không có người đại diện theo pháp luật khác nhưng vì buộc phải tống đạt cho người đại diện theo pháp luật mà vụ án phải tạm đình chỉ chờ có người đại diện của pháp nhân. Một số hồ sơ tín dụng có nhiều đương sự cư trú tại nhiều tỉnh thành khác nhau. Đương sự ở nước ngoài, có địa chỉ không rõ dẫn đến tống đạt, ủy thác tư pháp gặp nhiều khó khăn, trong trường hợp không có cơ sở để xác định họ không biết được việc Tòa án niêm yết tống đạt thì theo quy định pháp luật Tòa án phải tiến hành thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuy nhiên, một số tổ chức tín dụng từ chối không nộp chi phí phí ủy thác tư pháp, chi phí đăng báo dẫn đến việc giải quyết vụ án gặp khó khăn. Khó khăn trong việc xác minh hiện trạng tài sản, thu thập chứng cứ Hiện nay, Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hố Chí Minh gặp nhiều khó khăn trong việc khi tiến hành thủ tục xem xét thẩm định tại chỗ đối với bất động sản, khi thế chấp tài sản ngân hàng chỉ thế nhận thế chấp và xem xét tài sản dựa trên giấy tờ hiện có, không xem xét thực tế dẫn đến quá trình thẩm định tại chỗ phần diện tích thực tế có chênh lệch hoặc hiện trạng thực tế tài sản tại thời điểm giải quyết tranh chấp khác nhiều so với hiện trạng tài sản khi thế chấp trên giấy tờ. Nhiều trường hợp, Tòa án đã áp dụng hết tất cả các biện pháp theo quy định pháp luật nhưng phía bị đơn hoặc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không hợp tác không cung cấp bản vẽ hiện trạng mới, không hợp tác để đo vẽ, không cho thực hiện xem xét thẩm định tại chỗ, không cho Hội đồng định giá vàođịnh giá… gây khó khăn rất nhiều cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án. Đối với tài sản ngân hàng đem bán đấu giá, người mua được tài sản đấu giá vẫn không thực hiện được thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận vì người có tài sản khởi kiện liên quan đến tài sản đấu giá, hoặc tranh chấp khác liên quan đến tài sản đem đấu giá. Dẫn đến phát sinh thêm nhiều vụ tranh chấp liên quan đến Nghị quyết42, vì vậy vẫn không thể nào giải quyết dứt điểm nợ xấu của Ngân hàng. Tài sản thế chấp thực tế đã được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ cho bên thứ ba; nhiều trường hợp tài sản thế chấp trở thành đối tượng tranh chấp trong một vụ án khác như tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, dẫn đến việc giải quyết vụ án trở nên phức tạp, Tòa án phải ủy thác thu thập chứng cứ đến các tỉnh thành nơi có bất động sản tọa lạc, kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Tài sản thế chấp là tài sản đảm bảo cho nhiều khoản vay của bị đơn tại nhiều hợp đồng khác nhau; đồng thời, phần nhỏ giá trị của nhiều tài sản thế chấp lại đảm bảo cho khoản vay của một hợp đồng tín dụng nhưng không xác định được tỷ lệ phần trăm của nghĩa vụ mà một tài sản đó bảo đảm cho khoản vay này nên khó khăn trong việc giải quyết để người có tài sản bảo đảm là bên thứ ba thực hiện trách nhiệm bảo đảm cho khoản vay của bên được bảo đảm Đối với tài sản thế chấp là động sản, ví dụ như xe ô tô, xe gắn máy sau khi thế chấp cho ngân hàng đã đem chuyển nhượng bất hợp pháp cho người khác dẫn đến khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án và thi hành án. Về thời hạn giải quyết vụ án Tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định thời hạn giải quyết từ 02 đến 04 tháng, gia hạn không quá 2 tháng. Những vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp tín dụng thông thường rất phức tạp, giá trị hợp đồng vay lớn, tài sản bảo đảm khoản vay và người tham gia tố tụng phức tạp nhưng thời hạn giải quyết tối đa chỉ 3 tháng là quá ngắn. Rất ít trường hợp tranh chấp hợp đồng tín dụng giải quyết đúng trong thời hạn quy định nêu trên. Sự không minh bạch, không trung thực, che giấu khiếm khuyết về tài sản thế chấp của người có tài sản thế chấp” Một số trường hợp, khi thế chấp tài sản, chủ sở hửu không thông báo cho bên nhận thế chấp những thông tin đầy đủ, những hạn chế của tài sản thế chấp chẳng hạn như tài sản có tranh chấp, hiện trạng tài sản khác với giấy chứng nhận… dẫn đến việc là khi tổ chức tín dụng khởi kiện vụ án tín dụng thì lại phát sinh các tranh chấp về quyền sở hửu, về hợp đồng thuê nhà, lúc này Tòa án buộc phải nhập các vụán giải quyết, mất thêm nhiều thời gian tố tụng. Hoặc, tài sản trong hợp đồng nhận thế chấp không đúng với thực tế tài sản như diện tích đất thực tế không đúng, tài sản không đủ theo hợp đồng, không nhận thế chấp tài sản gắn liền trên đất, trên đất có tài sản là nhà ở của người khác, hoặc khi thế chấp tài sản xong, chủ tài sản tiến hành sửa chữa, xây dựng mới dẫn đến khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án và thi hành án. Việc thực thi pháp luật của cán bộ tín dụng, Thẩm phán, Thư ký Tòa án Trong thực tiễn giải quyết những vụ án tín dụng, chúng tôi nhận thấy một số hợp đồng thế chấp tài sản còn chưa tuân thủ quy định pháp luật về thế chấp, đăng ký giao dịch đảm bảo, cụ thể là hợp đồng nhận thế chấp là quyền sử dụng đất trả tiền thuê đất hàng năm, việc ký thế chấp thiếu đồng sở hửu, tài sản thế chấp được định giá cao rất cao so với giá thị trường, biên bản thẩm định tài sản không đúng thực tế… dẫn đến nhiều rủi ro của tổ chức tín dụng nếu có xảy ra tranh chấp Thậmchí có nhiều tổ chức tín dụng khi khởi kiện vẫn đưa ra yêu cầu tính lãi quá hạn, lãi phạt không đúng quy định của Nghi quyết 01/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao quy định về lãi suất, dẫn đến Tòa bác yêu cầu và các tổ chức tín dụng này phải chịu án phí. Một số tổ chức tín dụng khi được chính người bảm đảm tài sản ủy quyền bán tài sản lại chần chừ, chậm thực hiện việc bán đấu giá tài sản dẫn đến thời gian thu hồi tài sản chậm, tiền thu không đủ đối với khoản nợ… Điều này cũng đặt ra vấn đề về năng lực chuyên môn của cán bộ tín dụng. Về phía Tòa án, một số thẩm phán cũng chưa thực sự phát huy hết năng lực, trách nhiệm của mình trong việc giải quyết vụ án, nghiên cứu văn bản pháp luật, vẫn còn tình trạng gây khó khăn cho tổ chức tín dụng trong việc thụ lý hồ sơ, xác định tư cách đương sự, việc ủy quyền của ngân hàng, VAMC đến việc chưa nắm vững kỹ năng giải quyết án dẫn đến kéo dài… Trong các vụ việc có nhiều tài sản thế chấp để đảm bảo chung cho một khoản vay nhưng bản án, quyết định của Tòa án tuyên không xác định rõ phạm vi nghĩa vụ bảo đảm của từng tài sản thế chấp dẫn đến vướng mắc khi tổ chức thi hành án và ủy thác thi hành án. Nội dung bản án, quyết định của Tòa án tuyên không mô tả, xem xét hiện trạng thực tế tài sản thế chấp nên hiện trạng tài sản trên thực tế không đúng nội dung nêu trong bản án, quyết định của Tòa hoặc Tòa không đưa người quản lý tài sản tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan… dẫn đến quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự đề nghị Tòa án giải thích bản án hoặc gặp nhiều khó khăn trong xác minh mốc giới, diện tích, quyền sở hữu tài sản hoặc bị người quản lý tài sản khiếu nại, tố cáo gây chậm trễ, kéo dài thời gian tổ chức thi hành án. Thiếu dữ liệu, thông tin về tài sản Hiện nay, khi tiếp nhận đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời liên quan đến bất động sản chẳng hạn như cấm chuyển dịch quyền về tài sản, hoặc giải quyết các tranh chấp liên quan đến bất động sản, Tòa án thường phải phải kiểm tra tình trạng pháp lý của bất động sản đó như ai đang quản lý, sử dụng… thông qua việc thu thập chứng cứ từ Văn phòng đất đai thuộc sở tài nguyên môi trường cấp tỉnh. Việc xác minh này mất nhiều thời gian, không đáp ứng được thời gian giải quyết vụ việc. Tòa án cũng thiếu thông tin phối hợp trong vụ việc xuyên suốt từ cáctổ chức tín dụng, từ cơ quan thi hành án dân sự. 2. Những bất cấp của quy định pháp luật định thiếu thống nhất đối giữa biện pháp cầm cố và thế chấp Kế thừa quan điểm của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 đưa ra khái niệm về biện pháp bảo đảm cầm cố và thế chấp. Theo đó, cầm cố tài sản là việc bên cầm cố giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Thế chấp tài sản là bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên nhân thế chấp. Từ đó cho thấy, cầm cố và thế chấp chỉ khác nhau ở việc chuyển giao mang tính cơ học các tài sản bảo đảm mà không có sự phân biệt về loại tài sản. Vì thế, trong hoạt động cho vay thì việc cầm cố bất động sản là hoàn toàn có thể thực hiện. Tuy nhiên, các Luật chuyên ngành lại không quy định điều này. Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 quy định về các quyền sở hữu nhà ở thì không quy định quyền cầm cố nhà ở mà chỉ thấy quy định về quyền thế chấp nhà ở. Điều 167 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 quy định quyền của người sử dụng đất cũng không quy định người sử dụng đất có quyền cầm cố quyền sử dụng đất. Như vậy, quy định trong các văn bản Luật chuyên ngành đã hạn chế quyền cầm cố bất động sản của người sở hữu các quyền này. Với quy định này, tổ chức tín dụng có nguy cơ rủi ro rất lớn vì pháp luật thừa nhận giao dịch cầm giữ kể cả trong trường hợp tài sản đã được thế chấp, cầm cố tại tổ chức tín dụng và phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Mặt khác, đối với trường hợp bảo lưu quyền sở hữu, nếu nhà nước không có hệ thống thông tin công khai tình trạng pháp lý tài sản và yêu cầu bắt buộc phải đăng ký công khai về việc bảo lưu quyền sở hữu thì tổ chức tín dụng không hể kiểm soát được tài sản bảo đảm có bị bảo lưu quyền sở hữu hay không và phải chịu rủi ro từ việc hợp đồng thế chấp bị vô hiệu, dẫn đến mất tài sản bảo đảm. Quy định khác nhau giữa chuyển giao quyền sở hửu nhà ở giữa Luật nhà ở 2005 và Luật Nhà ở 2015 Khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở 2005 quy định “Quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận tặng cho, bên thuê mua, bên nhận đổi nhà ở kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng đối với giao dịch về nhà ở giữa cá nhân với cá nhân hoặc đã giao nhận nhà ở theo thỏa thuận trong hợp đồng đối với giao dịch về nhà ở mà một bên là tổ chức kinh doanh nhà ở hoặc từ thời điểm mở thừa kế trong trường hợp nhận thừa kế nhà ở”. Trong khi đó Điều 12 Luật Nhà ở 2015 quy định “Trường hợp mua bán nhà ở mà không thuộc diện quy định tại khoản 3 Điều này và trường hợp thuê mua nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là kể từ thời điểm bên mua, bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền mua, tiền thuê mua và đã nhận bàn giao nhà ở, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.” Như vậy, cùng một giao dịch mua bán nhà ở, nhưng nếu thực hiện ở thời điểm từ ngày 01/7/2006 đến trước thời điểm 01/7/1015 thời điểm có hiệu lực của Luật Nhà ở 2005 thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua, bên nhận cho… từ thời điểm công chứng; nếu thực hiện ở thời điểm từ ngày 01/7/2015 về sau thì Luật nhà ở 2015 quy định quyền sở hửu nhà được chuyển từ thời điểm thanh toán đủ tiền mua và nhận nhà. Quy định khác nhau cùng một vấn đề dẫn đến đường lối xét xử của Tòa án đối với tranh chấp quyền sở hửu tài sản sẽ khác nhau. Thiếu quy định pháp luật và chưa thống nhất đối với một số loại tài sản bảo đảm đặc biệt Bộ luật Dân sự 2015 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đều không quy định rõ ràng về việc sử dụng thế chấp hay cầm cố, trong đó có các quyền tài sản. Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định về việc sử dụng quyền tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự theo Điều 322. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bãi bỏ Điều luật này. Việc bãi bỏ quy định này gây khó khăn cho khách hàng sử dụng quyền tài sản quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp... để đảm bảo vay vốn. Đồng thời, việc thiếu quy định quyền tài sản được bảo đảm dưới hình thức cầm cố hay thế chấp cũng khiến cho cán bộ nhân viên ngân hàng khó khăn áp dụng trong thực tiễn. Bên cạnh đó, còn nhiều quy định chưa thống nhất tại các văn bản Luật trong việc cầm cố hay thế chấp tài sản như tài sản là tàu bay, tàu biển... Nghị định số163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy định “thế chấp tàu bay, tàu biển”, không có quy định cầm cố tàu bay nhưng sang đến Nghị định số83/1010/NĐ-CP ngày 23/07/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch đảm bảo quy định “cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay”. 3. Một số đề xuất, kiến nghị Sửa đổi các quy định về cầm cố tài sản. Điều 10 của Luật Nhà ở năm 2014 cần được sửa đổi, theo hướng mở rộng cả quyền cầm cố nhà ở cho chủ sở hữu, đồng thời quy định chi tiết về cầm cố nhà ở. Tương tự, tại Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 cũng cần sửa đổi theo bằng việc cho phép các chủ thể có quyền sử dụng đất làm tài sản cầm cố. Cần xây dựng Luật đăng ký giao dịch bảo đảm thống nhất. Việc xây dựng và ban hành Luật đăng ký giao dịch đảm bảo là cần thiết nhằm đạt các mục tiêu sau Thống nhất pháp luật trong lĩnh vực đăng ký giao dịch đảm bảo; Hủy bỏ những quy định không còn phù hợp trong pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm; Bổ sung những quy định cần thiết, phù hợp với thực tiễn khách quan của đời sốngkinh tế, xã hội; Đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và hội nhập quốc tế. Tòa án nhân dân Tối Cao cần có văn bản bản hướng dẫn các tổ chức tín dụng lựa chọn việc khởi kiện về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm thay vì tranh chấp hợp đồng tín dụng để được áp dụng thủ tục rút gọn theo Điều 8 Nghị Quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội và Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án. Tòa án nhân dân Tối Cao cần hướng dẫn thống nhất những trường hợp nào đưa người có quyền lợi có nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đặc biệt là những tranh chấp liên quan tòa nhà, căn hộ, chung cư… có nhiều cư dân sinh sống, đồng thời hướng dẫn thống nhất việc tống đạt cho pháp nhân, người đại diện pháp luật, các Công ty mua bán nợ khác… Về phía tổ chức tín dụng cần có quy định chặt chẽ trong quá trình thẩm định tài sản thế chấp. Lãnh đạo của các tổ chức tín dụng cần chỉ đạo các chi nhánh thực hiện chặt chẽ thủ tục, hồ sơ cho vay đảm bảo tính khả thi trên thực tế, phát huy vai trò đầu mối phối hợp trong công tác tổng hợp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc. Nâng cao năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm tham gia của cán bộ các giai đoạn tố tụng, giai đoạn Thi hành án dân sự. Đối với những hồ sơ cần ủy thác tư pháp, tổ chức tín dụng cần hỗ trợ Tòa án trong việc thu thập xác minh người liên quan. Về phía Tòa án Nâng cao tinh thần trách nhiệm của thẩm phán khi giải quyết vụ việc. Thường xuyên tập huấn văn bản pháp luật liên quan đến giải quyết hợp đồng tín dụng, tài sản bảo đảm, các buổi tập huấn chuyên đề để nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ thẩm phán, thư ký tòa án, kịp thời giải đáp các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết. Cần xây dựng Trung tâm dữ liệu thông tin về bất động sản trên toàn quốc để cho các tổ chức tín dụng, Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự thuận tiện tra cứu trong việc xử lý vụ việc. Trên đây là tham luận của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại tọa đàm “Thực trạng, giải pháp và các vấn đề pháp lý cần lưu ý liên quan đến hợp đồng tín dụng, xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm trong giai đoạn Khởi kiện và Thi hành án” được Hiệp hội Ngân hàng, Tòa Kinh tế - Tòa án Nhân dân TP. Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức tháng 3/2021 Vấn đề pháp lý là gì Vấn đề pháp lý hay còn được gọi là câu hỏi pháp lý tức là các vấn đề trọng tâm cần tranh luận hoặc cần giải quyết theo hình thức pháp luật của một vấn đề. … Tuy nhiên lại có những vấn đề pháp lý cần có thời gian thu thập điều tra, tổng hợp bằng chứng thì mọi việc mới được giải quyết. Cụ thể là vấn đề pháp lý của vụ án. Xác định vấn đề pháp lý Sẽ có 3 yếu tố của vấn đề pháp lýSự kiện pháp lý mấu chốt Giản lược tối đa các tình tiết phụ -> Nổi bật lên sự kiện chính Trong nhiều sự kiện chính có 1 sự kiện mấu chốt – có tác động quan trọng nhất đến toàn bộ vụ việc Sự kiện mấu chốt có thể đã xảy ra hoặc chưa xảy ra trường hợp nhờ tư vấn Câu hỏi pháp lý mấu chốt Là câu hỏi người hành nghề luật TỰ HỎI BẢN THÂN hoặc TRANH LUẬN VỚI NHAU Là câu hỏi mang tính định hướng để làm sáng tỏ vấn đề Từ câu hỏi mấu chốt à đặt ra hàng loạt câu hỏi cần thiết với người cung cấp thông tin để làm rõ các tình tiết, các dấu hiệu trong vụ việc Luật điều chỉnh Từ câu hỏi pháp lý mấu chốt -> các văn bản pháp luật và tiền lệ có liên quan. nêu Những vấn đề pháp lý liên quan Đại diện theo uỷ quyền Người đại diện theo ủy quyền là người thông qua văn bản ủy quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong phạm vi được ủy quyền, là người nhân danh và vì lợi ích của người ủy quyền để xác lập, thực hiện các giao dịch. Vậy pháp luật hiện hành quy định các vấn đề pháp lý liên quan đến đại diện theo ủy quyền như thế nào, mời quý bạn đọc theo dõi bài viết sau SỞ PHÁP LÝ -Bộ Luật dân sự 2015 -Luật doanh nghiệp 2020 DIỆN THEO ỦY QUYỀN niệm Theo khoản 1, Điều 134 Bộ luật dân sự 2015 quy định Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân sau đây gọi chung là người đại diện nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác sau đây gọi chung là người được đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. cứ xác lập quyền đại diện theo ủy quyền Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền Như vậy đại diện theo ủy quyền tức là việc người đại diện là người sẽ nhân danh và vì lợi ích của một cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập thực hiện các giao dịch trong phạm vi được ủy quyền. trường hợp được đại diện theo ủy quyền Các trường hợp đại diện theo ủy quyền được quy định tại Điều 138 Bộ luật dân sự 2015 như sau “1. Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân. từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.” hạn đại diện theo ủy quyền Đối với đại diện theo ủy quyền thì thời hạn đại diện được xác định dựa theo văn bản ủy quyền. Đại diện theo ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau a Theo thỏa thuận; b Thời hạn ủy quyền đã hết; c Công việc được ủy quyền đã hoàn thành; d Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền; đ Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại; e Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 của Bộ luật dân sự 2015, tức là điều kiện người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện; g Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được. vi đại diện theo ủy quyền Thông qua văn bản ủy quyền, người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi nội dung ủy quyền. Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình. quả pháp lý của hành vi đại diện theo ủy quyền Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện. Người đại diện có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện. Trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này mà không phản đối. diện theo ủy quyền quy định trong Luật doanh nghiệp 2020 Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2020 thì người đại diện theo ủy quyền trong doanh nghiệp có 02 loại Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức Đối với người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật Khoản 3, Điều 12 Luật doanh nghiệp 2020 quy định rằng Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Khi chỉ còn lại một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam thì người này khi xuất cảnh khỏi Việt Nam phải ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân khác cư trú tại Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền. Trường hợp hết thời hạn ủy quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thì thực hiện theo quy định sau đây a Người được ủy quyền tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân cho đến khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trở lại làm việc tại doanh nghiệp; b Người được ủy quyền tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh cho đến khi người đại diện theo pháp luật của công ty trở lại làm việc tại công ty hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị quyết định cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Đối với người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức Người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức phải là cá nhân được ủy quyền bằng văn bản nhân danh chủ sở hữu, thành viên, cổ đông đó thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật doanh nghiệp 2020. Người đại diện theo ủy quyền phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây a Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật doanh nghiệp 2020; b Thành viên, cổ đông là doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 của Luật này không được cử người có quan hệ gia đình của người quản lý công ty và của người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty làm người đại diện tại công ty khác; c Tiêu chuẩn và điều kiện khác do Điều lệ công ty quy định. Người đại diện theo ủy quyền nhân danh chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông tại Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông theo quy định của Luật này. Mọi hạn chế của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông đối với người đại diện theo ủy quyền trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty tương ứng tại Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông đều không có hiệu lực đối với bên thứ ba. Người đại diện theo ủy quyền có trách nhiệm tham dự đầy đủ cuộc họp Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông; thực hiện quyền và nghĩa vụ được ủy quyền một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất, bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông cử đại diện. Người đại diện theo ủy quyền chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu, thành viên, cổ đông cử đại diện do vi phạm trách nhiệm quy định tại Điều này. Chủ sở hữu, thành viên, cổ đông cử đại diện chịu trách nhiệm trước bên thứ ba đối với trách nhiệm phát sinh liên quan đến quyền và nghĩa vụ được thực hiện thông qua người đại diện theo ủy quyền. Trên đây là ý kiến tư vấn sơ bộ của Luật 3S dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm tư vấn. Để được tư vấn chi tiết, giải quyết cho từng trường hợp cụ thể, quý khách hàng vui lòng gọi hotline hoặc gửi email để được Luật sư tư vấn chi tiết. 1. Thành lập doanh nghiệp 2. Thực hiện thủ tục thuế lần đầu sau khi hoàn thành thủ tục thành lập doanh nghiệp 3. Các vấn đề liên quan đến lao động 4. Các vấn đề liên quan đến quản lý nội bộ doanh nghiệp 5. Các vấn đề liên quan đến đất đai cho doanh nghiệp 6. Các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh/thương mại của doanh nghiệp 7. Các vấn đề về tài chính của doanh nghiệp 8. Các vấn đề về thuế trong doanh nghiệp 9. Các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp 10. Các vấn đề về tổ chức lại và chấm dứt doanh nghiệp Một thực tế tất yếu là mọi cá nhân, tổ chức muốn triển khai hoạt động kinh doanh đều phải tuân theo các quy định của pháp luật. Các cá nhân, tổ chức là những người hiểu biết và nắm rõ kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực, ngành nghề mà mình kinh doanh. Tuy nhiên, doanh nhân sẽ còn rất ít thời gian để tìm hiểu các vấn đề pháp lý liên quan đến doanh nghiệp. Các vấn đề pháp lý liên quan đến doanh nghiệp khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động cần quan tâm những nội dung cơ bản như sau 1. Thành lập doanh nghiệp Những vấn đề cần tìm hiểu trước khi thành lập doanh nghiệp, bao gồm Lựa chọn các loại hình doanh nghiệp Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân. Các điều kiện để thành lập doanh nghiệp, bao gồm Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lsy doanh nghiệp; Cách đặt tên doanh nghiệp; Trụ sở chính; Vốn; Ngành, nghề kinh doanh; Nhân sự; Các điều kiện khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Soạn thảo, nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh, cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công bố công khai nội dung đăng ký doanh nghiệp Đăng ký khắc con dấu doanh nghiệp Căn cứ pháp lý Luật doanh nghiệp 2020 Nghị đinh số 01/2021/NĐ-CP quy định về Đăng ký doanh nghiệp VIFDI tư vấn thành lập doanh nghiệp miễn phí. Vui lòng liên hệ tại đây 2. Thực hiện thủ tục thuế lần đầu sau khi hoàn thành thủ tục thành lập doanh nghiệp Bao gồm Đăng ký mua chữ ký số token để sử dụng cho việc khai báo thuế điện tử. Lập tài khoản ngân hàng cho doanh nghiệp. Nộp tờ khai thuế môn bài và nộp thuế môn bài. Xác định phương pháp tính thuế giá trị gia tăng. Đăng ký mã số thuế cá nhân. Thông báo áp dụng phương pháp khấu hao tài sản cố định. VIFDI cung cấp dịch vụ khai thuế lần đầu cho doanh nghiệp. Vui lòng liên hệ tại đây 3. Các vấn đề liên quan đến lao động Bao gồm Tuyển dụng lao động. Soạn thảo hợp đồng lao động. Xây dựng các tài liệu nội bộ về lao động. Các thay đổi trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động. Quy trình xử lý kỷ luật lao động. Cách thức chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật. Đăng ký visa, giấy phép lao động, thẻ tạm trú cho người nước ngoài nếu có Giải quyết các tranh chấp liên quan đến lao động. Căn cứ pháp lý Bộ luật lao động 2019 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động chưa thành niên VIFDI cung cấp dịch vụ tư vấn luật lao động. Vui lòng liên hệ tại đây 4. Các vấn đề liên quan đến quản lý nội bộ doanh nghiệp Bao gồm Thiết kế mô hình quản trị điều hành doanh nghiệp Soạn thảo các văn bản quản lý nội bộ Tổ chức Đại hội đồng cổ đông/cuộc họp Hội đồng thành viên Căn cứ pháp lý Luật doanh nghiệp 2020 Nghị đinh số 01/2021/NĐ-CP quy định về Đăng ký doanh nghiệp VIFDI tư vấn quản trị nội bộ doanh nghiệp, tư vấn quản lý doanh nghiệp. Vui lòng liên hệ tại đây 5. Các vấn đề liên quan đến đất đai cho doanh nghiệp Bao gồm Thực hiện các thủ tục giao đất, cho thuê đất. Thực hiện các thủ tục xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Thực hiện chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Thực hiện thủ tục góp vốn và nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Thực hiện thế chấp quyền sử dụng đất. Căn cứ pháp lý Luật đất đai 2013 Nghị định 148/2020/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai Nghị định 41/2020 Gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất Nghị định số 06/2020/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung Điều 17 của Nghị định số 47/2014 /NĐ-CPngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất VIFDI tư vấn luật đất đai đối với doanh nghiệp, tư vấn góp đất vào doanh nghiệp. Vui lòng liên hệ tại đây 6. Các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh/thương mại của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần có các kỹ năng Kỹ năng xây dựng các loại hợp đồng liên quan tới hoạt động thương mại Kỹ năng tổ chức thực hiện hợp đồng Giải quyết các tranh chấp liên quan đến trong hoạt động thương mại. Một số hoạt động thương mại doanh nghiệp có thể tham gia Các quy định đối với thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam Hoạt động mua bán hàng hóa Hoạt động cung ứng dịch vụ Hoạt động xúc tiến thương mại Hoạt động quảng cáo thương mại Hoạt động trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ Hoạt động hội chợ, triển lãm thương mại Các hoạt động trung gian thương mại Hoạt động môi giới thương mại Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa Hoạt động đại lý thương mại Một số hoạt động thương mại cụ thể khác Gia công trong thương mại; Hoạt động đấu giá hàng hóa; Hoạt động đấu thầu hàng hóa, dịch vụ; Dịch vụ logistics; Dịch vụ quá cảnh hàng hóa qua lãnh thổ Việt Nam và dịch vụ quá cảnh hàng hóa; Dịch vụ giám định; Cho thuê hàng hóa; Hoạt động nhượng quyền thương mại. Thu hồi công nợ trong quá trình hoạt động kinh doanh thương mại Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp sẽ phát sinh những khoản nợ khó đòi. Công nợ khó đòi thường phát sinh bởi nhiều nguyên nhân khác nhau như đối tác gặp khó khăn về tài chính, khách hàng trục trặc nội bộ dẫn đến chưa thanh toán; cũng có khách hàng từ chối thanh toán do có tranh chấp với đối tác về chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng…. Căn cứ pháp lý Luật Thương mại 2005 Bộ Luật dân sự 2015 VIFDI cung cấp dịch vụ tư vấn luật kinh doanh thương mại. Vui lòng liên hệ tại đây 7. Các vấn đề về tài chính của doanh nghiệp Bao gồm Kỹ năng phân loại các loại vốn và các phương thức quản lý vốn của doanh nghiệp. Tạo lập vốn và cách thức huy động vốn của doanh nghiệp. Cách thức xây dựng kế hoạch tài chính và báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Kỹ năng quản trị tài chính doanh nghiệp. Các vấn đề liên quan đến tài chính khi tái cơ cấu doanh nghiệp. VIFDI tư vấn tài chính cho doanh nghiệp. Vui lòng liên hệ tại đây 8. Các vấn đề về thuế trong doanh nghiệp Các loại thuế doanh nghiệp phải nộp Lệ phí môn bài; Thuế giá trị gia tăng; Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế thu nhập cá nhân. Dựa trên những sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp để xác định một số loại thuế khác như thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt,… Căn cứ pháp lý Luật Quản lý thuế 2019 Và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế. VIFDI cung cấp dịch vụ tư vấn thuế, dịch vụ báo cáo thuế theo quý, dịch vụ báo cáo thuế theo tháng, dịch vụ báo cáo thuế cuối năm, dịch vụ quyết toán thuế, dịch vụ hoàn thuế. Vui lòng liên hệ tại đây 9. Các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp Bao gồm Xem xét doanh nghiệp có các đối tượng nào cần được bảo hộ của quyền quyền sở hữu trí tuệ quyền tác giả và quyền liên quan; Quyền sở hữu công nghiệp Cách thức quản lý tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp. Quy trình xác lập quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp Cách thức khai thác quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp. Căn cứ pháp lý Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ Nghị định số 22/2018/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005 VÀ LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2009 VỀ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN NGHỊ ĐỊNH 04/VBHN-BKHCN NĂM 2019 – QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIFDI cung cấp dịch vụ tư vấn sở hữu trí tuệ. Vui lòng liên hệ tại đây 10. Các vấn đề về tổ chức lại và chấm dứt doanh nghiệp Tổ chức lại doanh nghiệp Tùy từng mục đích cụ thể về việc tái cơ cấu doanh nghiệp có thể tiến hành theo các thủ tục có liên quan như sau Chia doanh nghiệp Tách doanh nghiệp Hợp nhất doanh nghiệp Sáp nhập doanh nghiệp Sáp nhập và mua bán M&A doanh nghiệp Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp Chuyển công ty TNHH thành công ty cổ phần; Chuyển công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Chuyển công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; Chuyển doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn. Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp Các trường hợp chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm Giải thể doanh nghiệp Phá sản doanh nghiệp Căn cứ pháp lý Luật doanh nghiệp 2020 Nghị đinh số 01/2021/NĐ-CP quy định về Đăng ký doanh nghiệp VIFDI tư vấn giải thể doanh nghiệp, tư vấn giải thể chi nhánh công ty, giải thể công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Vui lòng liên hệ tư vấn tại đây Các vấn đề pháp lý của doanh nghiệp rất đa dạng, phức tạp, doanh nghiệp có thể thuê một pháp chế để thực hiện công việc liên quan đến pháp lý, tuy nhiên một chuyên viên pháp chế không thể nào quán xuyến toàn bộ tất cả các nội dung nêu trên. Do đó, doanh nghiệp nên sử dụng dịch vụ thuê ngoài của các công ty luật hoặc công ty tư vấn để có thể tư vấn trọn vẹn những vấn đề pháp lý của doanh nghiệp. Với đội ngũ chuyên viên pháp lý, có nhiều kinh nghiệm trong từng lĩnh vực cụ thể sẽ giúp cho doanh nghiệp giải đáp những thắc mắc liên quan đến các vấn đề pháp lý của doanh nghiệp. VIFDI tư vấn các thủ tục liên quan pháp lý của của doanh nghiệp tại Đồng Nai, Bình Dương, Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu. Vui lòng liên hệ tại đây để được tư vấn cụ thể hơn.

vấn đề pháp lý