Thiền hành. Ý về muôn vạn nẻo. Thiền lộ tâm an nhiên. Từng bước gió mát dậy. Từng bước nở hoa sen. Mỗi ngày ta đi rất nhiều, nhưng thường thì ta chạy nhiều hơn đi. Những bước chân vội vã của ta đã in lên mặt đất dấu ấn của lo âu, buồn phiền, tuyệt vọng. Nếu ngày 11 tháng 6 năm 1963, trong lúc cố cư sĩ đang bị chính quyền nhà ngô quản thúc ở thủ đức, thì ở nhà phu nhân của ông là nữ phật tử tôn nữ túy thiện đã đồng ý cho mượn chiếc xe austin a95 westminster có bảng số dba599 để chở bồ tát thích quảng đức đến ngả tư đường phan đình phùng và lê văn duyệt thực hiện đại nguyện vị pháp thiêu thân cúng … "Thiền sư Vạn Hạnh (? - 1018) - đời thứ 12, dòng Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi Vạn Hạnh thiền sư họ Nguyễn, người châu Cổ Pháp, hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức (nay là làng Đình Bảng, Thuận Thành, Bắc Ninh) xuất thân trong một gia đình đời đời tín Phật. Thuở nhỏ, ngài đã có tư chất khác thường, tinh thông Tam học, nghiên cứu trăm luận, xem thường công danh. Năm 1969, Đại lão Hòa thượng đảm nhiệm cương vị Tuyên Luật sư trong Đại Giới đàn Quảng Đức, tổ chức tại Phật học viện Huệ Nghiêm. Năm 1970, Đại lão Hòa thượng đảm nhiệm cương vị Khoa trưởng Phân khoa Phật học tại Đại học Vạn Hạnh - Sài Gòn đến năm 1975. Thiền sư Nhất Hạnh là một người yêu dân tộc, yêu đạo pháp, muốn đất nước có tự do no ấm. Viện Đại Học Vạn Hạnh do Thiền Sư Nhất Hạnh sáng lập và nhà xuất bản Lá Bối bị ngưng hoạt động. Cô nhi viện Quách Thị Trang bị trưng dụng. "Tiểu sử cố Hòa Từ đầu sào trăm thước tiến thêm một bước nữa là Kiến-tánh, đạt đến chỗ tự do tự tại, được giải thoát vĩnh viễn tất cả khổ. Người tham Tổ-sư-thiền phải chú ý những điều sau đây: 1. PHÁ CHẤP NGÃ (TA) Theo Phật-pháp, bất cứ Tiểu-thừa, Trung-thừa, Đại 1bBx6kR. Lãnh đạo phong trào hòa bình Phật giáo và hoạt động xã hội Tháng 12 năm 1963, Thầy rời Hoa Kỳ để về lại Việt Nam. Trên đường về nước, Thầy ghé qua Paris và có thuyết pháp cho đồng bào tại đây. Tháng Giêng năm 1964, Thầy về đến Việt Nam và đứng ngay vào vai trò lãnh đạo của phong trào hòa bình Phật giáo và hoạt động xã hội[1]. Chỉ vài ngày sau khi về nước, Thầy đã gặp gỡ các nhà lãnh đạo Phật giáo và sinh viên để lắng nghe về tình hình của đất nước. Thầy đề nghị hai phương án cụ thể cho các nhà hoạt động xã hội trẻ tuổi thứ nhất, mỗi tuần dành hẳn một ngày để cùng nhau đến chùa Trúc Lâm tu tập, tĩnh lặng thân tâm và thảo luận kế hoạch hành động; thứ hai hết lòng xây dựng những làng hoa tiêu còn gọi là làng tự nguyện hay làng tình thương nhằm tái thiết và phát triển nông thôn. Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất GHPGVNTN[2], Thầy đã đưa ra 3 điểm kiến nghị rất cụ thể để cộng đồng Phật giáo có thể góp phần vào việc chấm dứt tình trạng chia rẽ và bạo động trên đất nước Giáo hội nên đứng lên kêu gọi anh em miền Nam và miền Bắc Việt Nam ngồi lại tìm giải pháp chung để chấm dứt chiến tranh cốt nhục tương tàn. Giáo hội nên cấp thiết thành lập một Viện Cao đẳng Phật học để xây dựng lớp trí thức mới có tu có học rành mạch những điều Phật dạy hầu hướng dẫn đất nước đi về hướng đại trí đại bi, khoan dung, và biết lắng nghe tiếng nói của toàn dân. Giáo hội nên xây dựng ngay một trung tâm đào tạo tác viên xã hội để về các vùng nông thôn giúp người nghèo – những người thiếu ăn, thiếu học, chưa biết cách tổ chức làng xã – nhằm thúc đẩy việc thay đổi xã hội một cách bất bạo động, dựa trên giáo lý của Bụt. Các vị tôn túc trong Giáo hội chỉ đồng ý điểm thứ hai là thành lập Viện Cao đẳng Phật học. Tuy nhiên, vì không có tài chánh và địa điểm để xây dựng học viện nên họ cho Thầy được toàn quyền xúc tiến. Chỉ trong vòng một tuần, Thầy đã gặp các vị lãnh đạo của GHPGVNTN và bắt tay vào xây dựng Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn[3]. Những năm tiếp theo là thời kỳ dày đặc các hoạt động giảng dạy, in ấn, thuyết giảng công cộng, xây dựng cộng đồng và các hoạt động xã hội. Qua đó, Thầy đã gây được rất nhiều cảm hứng cho thế hệ trẻ. Cuối cùng thì Thầy đã có cơ hội biến ước mơ thành hành động. Chùa Trúc Lâm trở thành một địa điểm nơi những người tu trẻ và cư sĩ cùng gặp gỡ và làm việc chung với nhau như một cộng đồng. Các sinh viên về đây vào cuối tuần[4]. Thầy hướng dẫn cho sư chú Nhất Trí – người đệ tử đầu tiên được Thầy thế phát xuất gia và là một tác viên xã hội tài năng – phụ trách chương trình xây dựng làng Cầu Kinh[5]. Cộng đồng của Thầy xây dựng hai làng thí điểm làng Cầu Kinh và sau đó là làng Thảo Điền[6]. Các tác viên xã hội trẻ, cả xuất sĩ và cư sĩ, giúp dân làng xây trường học và khởi sự dạy chữ cho trẻ con trong làng. Ngay sau đó, họ cũng bắt đầu huấn luyện dân làng các kỹ thuật nông nghiệp, xây dựng hệ thống tưới tiêu và hướng dẫn về vệ sinh trong cộng đồng. “Chúng tôi không có tiền bạc, nhưng chúng tôi đã có kế hoạch và rất nhiều thiện chí”, Thầy nói[7]. Tháng Ba năm 1964, với sự hỗ trợ hết lòng của các sinh viên và bạn hữu, Thầy đã thành lập Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn tại chùa Pháp Hội. Thầy dời thư viện gồm khoảng 20,000 quyển sách từ Phương Bối về Viện. Thầy bắt đầu một trong những khóa học đầu tiên về Pháp tướng duy thức học và Pháp tánh không tuệ học cùng với các kinh nguyên thỉ khác. Khi HT. Thích Minh Châu từ Ấn độ trở về vào tháng Tư, Thầy đã thỉnh Hòa thượng làm giám đốc của Viện. Niên khóa đầu tiên bắt đầu vào mùa thu năm 1964, thời điểm mà Viện Phật học có tên mới là Viện Đại học Vạn Hạnh[8]. Đồng thời, Thầy cùng với các cộng sự thành lập nhà xuất bản Lá Bối để nói lên tiếng nói của một đạo Bụt mới, khởi xướng một con đường chấm dứt bạo động[9]. “Chúng tôi sử dụng văn hóa và nghệ thuật như một vũ khí’ để chống lại sự đàn áp,” Thầy giải thích. “Sáng tác của các cây bút phản chiến, các nhạc sĩ, nhà thơ, họa sĩ, dù là bất hợp pháp, đều được phát hành rộng rãi. Các bản nhạc phản chiến được hát trên đường phố và trong lớp học, và văn học phản chiến trở thành loại sách được bán nhiều nhất ở Việt Nam, thậm chí còn lọt vào các đơn vị quân đội.”[10] Không lâu sau đó, Thầy trở thành chủ bút của tuần san Hải Triều Âm – cơ quan thông tin văn hóa của Viện Hóa Đạo thuộc GHPGVNTN. Tờ báo ngày càng được nhiều người biết đến. 50 ngàn bản đã được in mỗi tuần, được chuyển ra Huế và Đà Nẵng bằng đường hàng không. Đó là tờ báo đầu tiên công khai đăng các bài thơ và nhạc về hòa bình, đồng thời với các bài tham luận Phật giáo quan trọng, các bài tường trình về hành động tuyệt thực để biểu tình của tăng ni và các cuộc phản đối sự áp bức của chính quyền. Các bài thơ về hòa bình của Thầy, được viết theo thể thơ tự do, trở nên rất nổi tiếng và chạm đến trái tim của hàng triệu người dân Việt. Mặc dù Thầy chưa bao giờ gọi thơ của mình là “thơ tự do” nhưng những bài thơ của Thầy được xem là những tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ Mới[11]. Tháng Mười một năm 1964, một nạn lụt lớn tại miền Trung đã cướp đi hàng ngàn sinh mạng và cuốn trôi hết nhà cửa. Nạn nhân trong những vùng có giao tranh chịu thiệt thòi nhất vì không ai dám tới tận nơi để cứu trợ. Thầy, sư chú Nhất Trí và chị Phượng đã tổ chức một đoàn thuyền cứu trợ có treo cờ Phật giáo và biểu ngữ cho biết đây là đoàn thuyền cứu trợ, đi ngược dòng Thu Bồn dưới những làn đạn để phân phát lương thực và các vật dụng cần thiết cho bà con tại huyện Đức Dục, tỉnh Quảng Nam. Đoàn đã gặp những trẻ em trúng đạn mình đầy máu me, những thanh niên xanh xao thiếu ăn, những người cha đang khổ đau vì cả gia đình đã bị lũ cuốn đi. Đêm hôm đó, Thầy đã cắt đầu ngón tay, nhỏ máu xuống dòng sông Thu Bồn và phát nguyện sẽ không bao giờ quên đồng bào khổ cực chết vì thiên tai, vì bom đạn ở những vùng xa xôi như vậy[12]. Làm công tác phụng sự xã hội trong bầu không khí đầy nghi kỵ, hận thù, sợ hãi và bạo động thật vô cùng khó khăn. Hiểm nguy có thể đến từ bất cứ bên nào, bất cứ lúc nào. Bạn bè của Thầy đã bị bắt bớ, các tác viên xã hội bị đe dọa, và hiểm nguy, bạo động lúc nào cũng có thể xảy ra. “Nếu không có một sự thực tập tâm linh, bạn không thể nào sống nổi,” Thầy giải thích[13]. “Đạo Bụt dấn thân đã được sinh ra trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn như vậy. Chúng tôi muốn duy trì sự thực tập của mình trong khi đối diện với khổ đau. Chúng tôi thực tập thiền hành ngay tại nơi mà đồng bào vẫn đang chạy dưới bom đạn. Và chúng tôi học cách trở về với hơi thở chánh niệm trong khi giúp chăm sóc cho một em bé bị thương vì trúng bom đạn”[14]. Chỉ có hơi thở chánh niệm mới có thể giúp cho các tác viên xã hội không bị những cảm xúc mạnh kéo đi, có đủ bình an để biết cái gì cần làm và cái gì không nên làm trong khi thực hiện công tác cứu trợ. Khổ đau và khó khăn đã trở thành những người thầy lớn của các tác viên xã hội lúc bấy giờ. “Điều khó khăn nhất là không để mất hy vọng, không đầu hàng tuyệt vọng,” Thầy nói. “Trong hoàn cảnh khổ đau tột cùng như vậy, chúng tôi phải thực tập như thế nào để giữ được hy vọng và lòng từ bi của mình.”[15] Cũng trong thời gian này, một trong những làng mà họ đang giúp tái thiết gần vùng phi quân sự đã bị ném bom. Họ xây lại làng. Khi làng bị ném bom lần thứ hai, các tác viên xã hội hỏi Thầy là có nên dựng lại làng nữa hay không, và Thầy đã trả lời “Nên”. Làng lại tiếp tục bị ném bom lần thứ ba. Và khi được hỏi, Thầy suy nghĩ một hồi lâu rồi trả lời “Nên”. Sau này Thầy giải thích “Có vẻ không có một hy vọng nào là chiến tranh sẽ kết thúc, bởi vì chiến tranh đã kéo dài quá lâu. Tôi phải thực tập thở và trở về với chính mình trong giây phút đó, khi các bạn trẻ hỏi tôi. Phải thú thật là lúc ấy tôi chẳng có hy vọng gì nhiều, nhưng nếu tôi không còn hy vọng thì tôi sẽ khiến cho các bạn trẻ đau buồn và tuyệt vọng. Tôi phải thực tập thật sâu sắc và nuôi một chút hy vọng le lói trong lòng để trở thành nơi nương tựa cho các em.”[16] Cho đến thời điểm tháng Sáu năm 1965, ở miền Nam Việt Nam, phe quân sự đã giành chính quyền; bạo động và đàn áp nổi lên khắp nơi. “Quyền tự do dân sự bị hạn chế, những người có quan điểm chính trị đối lập – bị tố cáo là trung lập hoặc thân cộng sản – đều bị bắt bỏ tù; các đảng chính trị được phép hoạt động với điều kiện là họ không được công khai chỉ trích chính sách của nhà cầm quyền”[17]. Các trận đánh du kích vẫn tiếp tục diễn ra. Thầy tiếp tục viết những bài thơ kêu gọi hòa bình, nói lên những đau thương cùng cực của người dân trong cảnh bom đạn của chiến tranh. Tập thơ của Thầy, Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện, được xuất bản năm 1965. Hơn 3000 bản đã được bán hết trong vòng hai tuần lễ. Không lâu sau đó, những bài thơ của Thầy bị hai bên lâm chiến công kích trên đài phát thanh, gọi là “thơ phản chiến” làm an ninh của Thầy bị đe dọa[18]. Mặc dù vậy, tập thơ này vẫn được in chui và phổ biến rộng rãi. Những bài thơ của Thầy được phổ nhạc và trở thành các bài hát cho hòa bình được nhiều người ưa thích, thường được hát trên đường phố hoặc trong các buổi hội họp của sinh viên học sinh. Phạm Duy, một trong những nhạc sĩ nổi tiếng đã viết 10 bài Tâm ca, lấy cảm hứng từ các bài thơ và thông điệp của Thầy “Kẻ thù ta không phải là con người”[19]. Năm 1965, lo ngại quân cộng sản chiếm ưu thế, Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B Johnson đã gửi một đội quân viễn chinh Mỹ đầu tiên đến Việt Nam. Đến mùa hè thì đã có hơn 125 ngàn lính Mỹ trên đất Việt. Thầy và các nhà trí thức hàng đầu ở Việt Nam nhận ra rằng gốc rễ của cuộc chiến thực sự nằm ở Tây phương và sự yểm trợ của các nhà lãnh đạo tâm linh và nhân quyền nổi tiếng ở Tây phương là rất cần thiết để giúp công luận có một cái nhìn khác về cuộc chiến tranh Việt Nam. “Qua hai cuộc chiến tranh, chúng tôi đã chứng kiến những người lính Pháp đến Việt Nam để giết và bị giết, và những người Mỹ trẻ tuổi cũng đến đây để giết và bị giết”, Thầy nói[20]. “Tôi có thể thấy nguyên nhân gây ra khổ đau ở Việt Nam không phải là từ những người lính Mỹ mà là từ một chính sách không có tuệ giác, một chính sách được làm bởi sợ hãi và cái thấy sai lệch.”[21] Vì lý do đó mà Thầy cùng với các cộng sự nhất trí rằng Thầy nên viết thư cho Mục sư Martin Luther King Jr vào tháng 6 năm 1965, còn những vị khác thì viết thư cho Jean-Paul Sartres, Henry Miller, Trong bức thư gửi Mục sư King, Thầy đã giải thích về lòng từ bi ẩn chứa trong hành động tự thiêu của các tu sĩ Phật giáo cho hòa bình. Và Thầy viết “Ở đây không ai muốn chiến tranh cả. Vậy thì chiến tranh để làm gì? Và chiến tranh cho ai? […] Tôi biết chắc rằng bởi vì Mục sư đã từng dấn thân vào một cuộc tranh đấu cam go nhất cho bình đẳng và nhân quyền, Ngài là một trong những người có thể hiểu thấu và chia sẻ được những đau khổ không bờ bến của dân tộc Việt. Các nhà nhân bản lớn trên thế giới chẳng thể nào ngồi yên và giữ yên lặng được. Ngài không thể im lặng được”[23]. Một năm sau đó, khi hai vị gặp nhau tại Chicago thì Mục sư King đã tham gia vào Ủy ban Lương tâm Quốc tế về vấn đề Việt Nam International Committee of Conscience on Vietnam. Mùa hè năm 1965, Thầy và các cộng sự chính thức thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội TNPSXH, một mô hình chính quy cho các dự án thí điểm mà Thầy và một nhóm các sinh viên trẻ – còn được gọi là nhóm “13 cây tùng”- khởi xướng trước khi Thầy rời Việt Nam. Giờ đây hướng đi của trường là xây dựng nên một tổ chức hoạt động xã hội chính quy, gắn liền với quần chúng, trung lập về chính trị, một nơi đào luyện cho người trẻ những kỹ năng thực tế và giúp họ có tinh thần vững vàng để có thể đi về những làng mạc nghèo khổ bị bom đạn tàn phá, giúp dân xây trường học, bệnh xá, làm nhà ở cho người vô gia cư và tổ chức những hợp tác xã nông nghiệp[24]. Trường tập trung vào bốn lĩnh vực giáo dục, sức khỏe & vệ sinh, kinh tế và tổ chức. Các học viên của trường TNPSXH giúp dân làng dựng các trường học bằng tre lợp lá dừa và bắt đầu dạy học. Các tác viên còn dạy dân làng làm hệ thống tưới tiêu ngoài đồng và phương pháp trồng nấm rơm. Họ giúp đào các hố tiêu tự hoại, xây các bệnh xá để chữa tiêu chảy và các bệnh nhiễm trùng[25]. Thời gian đó Thầy đã ghi lại “Chúng tôi thấy rõ điều đó và đã quyết định với nhau rằng một phong trào dựng lại xứ sở cần được đặt trên một căn bản hoàn toàn khác biệt. Chúng tôi muốn mở một mặt trận chống lại nghèo đói, ngu dốt, bệnh tật và vô tổ chức”[26]. Trường TNPSXH đã thu hút những người trẻ có nhiệt tâm muốn hành động để làm thay đổi tình trạng, những người muốn chọn một con đường bất bạo động, thay vì phải theo phe cộng sản hay phe chống cộng. Cũng như những người làm cách mạng, tham gia TNPSXH đòi hỏi sự dấn thân và hy sinh. Tương tự như những thành viên của Đoàn thanh niên phụng sự Hòa bình Peace Corps của Mỹ, các tác viên xã hội không có lương, chỉ có một ít tiền để ăn trưa, công tác phụng sự của họ được làm bằng tấm lòng. Tuy nhiên, thật chóng vánh, người ta có thể thấy rõ ràng là sự trung lập về chính trị vừa là điểm mạnh nhất nhưng cũng là điểm làm TNPSXH gặp nhiều hiểm nguy nhất. Với một đất nước bị chia cắt nặng nề, thậm chí sự trung lập cũng làm cho cả hai phe lâm chiến cảm thấy bị đe dọa. Thầy đã làm bài thơ Dặn dò[27] để nhắn nhủ các sinh viên của mình giữ gìn tâm từ bi và không bị rơi vào tuyệt vọng khi phải đối diện với bạo động và bất công trên con đường phụng sự Xin hứa với tôi hôm nayTrên đầu chúng ta có mặt trờiVà buổi trưa đứng bóngRằng không bao giờ em thù hận con ngườiDù con ngườiCó đổ chụp trên đầu emCả ngọn núi hận thùTàn bạo,Dù con ngườiGiết em,Dù con ngườiDẫm lên mạng sống emNhư là dẫm lên giun dế,Dù con người móc mật moi gan emĐầy ải em vào hang sâu tủi nhục,Em vẫn phải nhớ lời tôi căn dặnKẻ thù chúng ta không phải con đáng chỉ có tình xót thươngVì tôi xin em đừng đòi điều kiện Bởi không bao giờOán hờn lên tiếngĐối đáp đượcSự tàn bạo con người. Thầy đã được một đoàn thể rất mạnh gồm các bạn bè và cộng sự yểm trợ trong việc thực hiện chí nguyện của mình. Thầy Thanh Văn, đệ tử của một trong các huynh đệ của Thầy, là người rất tận tụy và đã trở thành giám đốc đầu tiên của trường TNPSXH. Thầy Châu Toàn, đệ tử duy nhất của HT. Thích Mật Thể – người khởi xướng phong trào đạo Bụt dấn thân đã gây cảm hứng sâu sắc cho Thầy khi Thầy còn là một người tu trẻ, đã trở thành Tổng thư ký của tờ Hải Triều Âm. Sư chú Nhất Trí, người đệ tử xuất gia đầu tiên của Thầy, là một tác viên xã hội mẫu mực, một tấm gương của sự khiêm nhường và lòng từ bi. Chị Phượng, Chủ tịch hội sinh viên Phật tử Viện Đại học Vạn Hạnh, trở thành một lãnh đạo hăng say và tháo vát trong các công tác xã hội của trường[28]. Bất chấp tất cả những hiểm nguy, thử thách mà các tác viên xã hội phải dối diện hàng ngày trong công tác, những năm giữa thập niên 1960 là thời gian của sự đoàn kết, của tình huynh đệ và niềm vui trong công việc xây dựng cộng đồng. Cộng đồng TNPSXH là một tập thể trẻ, năng động đang hướng tới một tương lai đầy hy vọng và hòa giải. Thầy yêu cầu tất cả các tác viên mỗi tuần một lần, dù bất cứ chuyện gì xảy ra cũng phải tập họp ở chùa Trúc Lâm, Gò Vấp để cùng nhau thiền tọa, thiền hành, ăn với nhau một bữa cơm và cùng ngâm thơ, ca hát với nhau để lấy lại tinh thần. Tháng Hai năm 1966, Thầy tiến thêm một bước nữa trong công việc xây dựng cộng đồng bằng cách thành lập dòng tu Tiếp Hiện, một dòng tu mới dựa trên giới Bồ Tát truyền thống, trình bày được cái thấy mới về một đạo Bụt dấn thân hiện đại. Dòng tu Tiếp Hiện chuyên chở giáo lý của Thầy về việc “không theo phe trong một cuộc tranh chấp”, và nhấn mạnh đến việc không bị vướng mắc vào một quan điểm hoặc một ý thức hệ nào. Đối với Thầy, những giới này chính là “câu trả lời trực tiếp cho vấn đề chiến tranh, là câu trả lời trực tiếp cho chủ nghĩa giáo điều khi mà người ta sẵn sàng giết hoặc chết cho niềm tin của mình”[29]. Sau này Thầy nói “Là những Phật tử thực tập theo con đường hòa bình và hòa giải, chúng ta không thể nào chấp nhận một cuộc chiến mà trong đó anh em một nhà dùng ý thức hệ và vũ khí của bên ngoài để tàn sát lẫn nhau. Dòng tu Tiếp Hiện được lập ra như một phong trào phản kháng tâm linh”[30]. Sáu vị Tiếp Hiện đầu tiên trong đó có chị Phượng là những tác viên xã hội năng nổ, hết lòng đem lý tưởng của đạo Bụt áp dụng vào đời sống thực tế, họ yểm trợ lẫn nhau trong việc kết hợp đời sống tâm linh vào hoạt động xã hội. Mỗi tuần họ đều đến chùa lá Pháp Vân để cùng tụng giới với nhau[31]. Trong những thập niên kế tiếp, Thầy tiếp tục làm mới Mười bốn giới Tiếp Hiện, và những giới này đã trở thành kim chỉ nam đạo đức giúp định hướng cho hoạt động dấn thân. Đến hôm nay, đã có hơn 3000 thành viên thuộc dòng tu Tiếp Hiện trên toàn thế giới. Sau này Thầy viết “Chiến tranh Việt Nam, trước hết và trên hết, là một cuộc tranh đấu về ý thức hệ. Để bảo đảm cho sự sống còn của dân tộc, chúng tôi phải vượt qua thái độ cuồng tín của cả hai phía cộng sản và chống cộng sản và duy trì sự trung lập một cách cực kỳ nghiêm mật. Người Phật tử làm hết sức mình để nói lên tiếng nói của cả dân tộc mà không theo phe phái, nhưng chúng tôi đã bị lên án là thân cộng’. Cả hai bên lâm chiến đều hô hào rằng họ nói lên mong muốn đích thực của dân chúng, nhưng miền Bắc là tiếng nói của khối cộng sản, và miền Nam là tiếng nói của khối tư bản. Người Phật tử chỉ muốn tạo ra một phương tiện để tiếng nói của người dân được lắng nghe – và người dân chỉ muốn hòa bình mà không phải là chiến thắng’ cho bên này hoặc bên kia”[32]. Nhưng, Thầy nói, “tiếng máy bay và tiếng bom quá lớn. Người dân trên thế giới không thể nghe được tiếng nói của dân tộc chúng tôi. Vì vậy tôi đã quyết định sang Hoa Kỳ để vận động chấm dứt chiến tranh”[33]. _________________ [1] Phong trào tranh đấu bất bạo động này được gọi là “Lực lượng thứ ba” trong bối cảnh chính trị ở Việt Nam vào thời điểm đó. [2] Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được chính thức thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm 1963, hợp nhất tất cả các tông phái Phật giáo Việt Nam lại thành một giáo hội duy nhất. Đây là kết quả từ sự nỗ lực của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam từ 10 năm trước. [3] Thầy đã gặp các vị lãnh đạo của GHPGVNTN vào ngày và mời quý Hòa thượng Trí Thủ, Thiện Hoa và Thiên Ân cùng tham gia vào công trình này. [4] Quý thầy gồm có Đồng Bổn, Thanh Văn, Thanh Tuệ, Thanh Hương, Thanh Hiện, Từ Mẫn, Châu Toàn, Nhất Trí; và các bạn sinh viên gồm có Tâm Quang, Tâm Thái, Thu Hà, Trà Mi, Phùng Thăng. [5] Sư chú Nhất Trí đã từng theo học và thọ Năm giới với Thầy tại B’lao. Năm 1964, sư chú đã được Thầy thế phát xuất gia. [6] Dự án Làng Thảo Điền do chị Phượng khởi xướng. Sư chú Nhất Trí đã sống và làm việc tại chính ngôi làng này. [7] Trích Nẻo về của ý – NXB Văn hóa Sài Gòn, “Thỉnh thoảng Lý hỏi tôi có nghèo’ lắm không. Tôi nói nghèo lắm thì cũng chưa phải là nghèo. Nghèo mấy thì cũng còn có ánh trăng bên cửa sổ, khi điện thành phố bị cúp. Đó là lời nói theo kiểu thơ hài cú’haiku của thi sĩ Ba Tiêu Basho. Lý cười ha hả và móc túi đưa cho tôi năm bảy trăm đồng, nói rằng trả tiền cái truyện ngắn đăng trên báo của Lý. Tôi không nhớ là Lý đã đăng truyện gì của tôi, nhưng mà tôi cứ nhận tiền của Lý như thường. ” – Trích Nẻo về của ý – NXB Văn hóa Sài Gòn, [8] Viện Đại học Vạn Hạnh được Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa cấp giấy phép ngày Kể từ khi Thầy không được phép trở về quê hương, tên của Thầy đã không còn được ghi trong lịch sử của Viện Đại học Vạn Hạnh, dù Thầy là người sáng lập. [9] Những cuốn sách của Thầy như Đạo Phật Hiện Đại Hóa, Nói Với Tuổi Hai Mươi đều được phát hành vào năm 1965. Qua những tác phẩm này, Thầy đã nói lên được những sợ hãi, hoang mang và hy vọng của thế hệ trẻ và chỉ ra cho họ một hướng đi. [10] Trích từ cuốn sách của Thầy Love in Action Writings on Nonviolent Social Change 1993, [11] Nhà thơ Vũ Hoàng Chương – người phụ trách trang thơ của tuần san Hải Triều Âm – đã nói với thầy Châu Toàn rằng “tuy các anh ở nhóm Sáng Tạo lăng xê’ thơ tự do nhiều như thế, nhưng rốt cuộc theo ông thì những bài thơ hoà bình’ của thầy Nhất Hạnh đăng trong Hải Triều Âm lại là những bài thơ tự do thành công nhất, tuy chưa bao giờ thầy nói thơ thầy là thơ tự do” nguồn tác phẩm Bây giờ mới thấy, NXB Phương Đông, [12] Thơ Ruột đau chín khúc – Tập thơ Cho bồ câu trắng hiện [13] Trích phần trả lời của Thầy trong buổi vấn đáp tại tu viện Bích Nham, ngày [14] Pháp thoại của Thầy tại Làng Mai, ngày [15] Trích phần trả lời của Thầy trong buổi vấn đáp tại tu viện Bích Nham, ngày [16] Trích từ tác phẩm At Home in the World 2016, bài “Not Giving Up,”. [17] Trích từ Bách khoa toàn thư Encyclopaedia Britannica 2020, phần nói về chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954 – 1965 “The two Vietnams 1954–65” [18] Thầy chưa bao giờ xem những bài thơ của mình là “thơ phản chiến”. Thầy nói rằng những bài thơ đó chẳng “chống” bất cứ cái gì; nó chỉ đơn thuần là “những bài thơ kêu gọi hòa bình” mà thôi. [19] “Kẻ thù của chúng ta là cuồng tín, là bạo tàn Là tham lam, là vu khống Kẻ thù chúng ta không phải con người – dù con người gọi là Việt cộng – Giết con người đi rồi, chúng ta ở với ai ? ” – Trích từ bài thơ Chiến tranh, trong tập thơ Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện. [20] Trích phần trả lời của Thầy trong buổi vấn đáp tại tu viện Bích Nham, ngày [21] Trích pháp thoại công cộng của Thầy tại nhà thờ Riverside, thành phố New York, ngày ngay sau sự kiện [22] Những lá thư này đã được NXB Lá Bối in trong tác phẩm Dialogue Đối thoại bằng tiếng Anh vào năm 1965. Hồ Hữu Tường viết cho Jean Paul Sartres; Tam Ích viết cho André Malraux; Bùi Giáng viết cho René Char; and Phạm Công Thiện viết cho Henry Miller. [23] Lá thư của Thầy gửi cho Mục sư King Bản dịch tiếng Việt [24] Để hiểu thêm về hoạt động của trường TNPSXH, xin xem tại đây. Mô hình trường TNPSXH được Thầy lấy cảm hứng từ Đoàn thanh niên phụng sự Hòa Bình Peace Corps của Mỹ, phong trào kibbutz mô hình kinh tế nông thôn ở Israel cũng như mô hình ashram và các công tác xã hội của Vinoba Bhave ở Ấn Độ. Vào tháng 11 năm 1966, Thầy còn đi Philippines để quan sát và học hỏi kinh nghiệm từ phong trào tái thiết nông thôn của quốc gia này. [25] Pháp thoại của Thầy tại Làng Mai, ngày [26] Trích Nẻo về của ý, NXB Văn hóa Sài Gòn, – 204 [27] Trích từ tập thơ Tiếng đập cánh loài chim lớn [28] Đọc thêm Con đường mở rộng 52 năm theo Thầy học đạo và phụng sự để hiểu thêm về Sư cô Chân Không chị Phượng [29] Pháp thoại của Thầy tại Hà Nội, ngày [30] Pháp thoại của Thầy tại Hà Nội, ngày với chủ đề “A History of Engaged Buddhism” Lịch sử đạo Bụt Dấn thân [31] Chùa Pháp Vân còn được gọi là chùa Lá, vì chùa được lợp bằng lá cho giống với chùa của người dân nghèo. Chùa được xây dựng theo thiết kế của Thầy. Chùa Lá là trái tim của trường TNPSXH, là cái nôi của dòng tu Tiếp Hiện. Chính tại nơi đây, Thầy đã truyền giới Tiếp hiện cho 6 thành viên đầu tiên của dòng tu. Năm 1967, năm tác viên của trường bị bắn tại bờ sông, trong đó bốn người chết và một người bị thương. Bốn tác viên bị bắn chết đã được chôn tại khu vườn nằm trong khuôn viên của chùa Lá. Ngày nay, chùa Pháp Vân là một trong những ngôi chùa lớn nhất ở Tp. Hồ Chí Minh. Khi đến thăm chùa, ta vẫn có thể đến viếng khu vườn tưởng niệm các tác viên của trường TNPSXH đã hy sinh. [32] Trích từ tác phẩm Love in Action, [33] Trích pháp thoại công cộng của Thầy tại nhà thờ Riverside, thành phố New York, ngày ngay sau sự kiện Tiểu sử Vạn Hạnh Thiền Sư 938 1025 Vạn Hạnh 938 – 1025 là tên một vị thiền sư thời Tiền Lê có nhiều đóng góp trong việc mở ra triều đại nhà Lý, một trong những triều đại nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông được xem là cố vấn của vua Lê Đại Hành, là người thầy của Lý Công Uẩn, đã hướng dẫn cho vị này một thời gian dài trước và sau khi triều Lý thành lập. Ông cũng là một nhà tiên tri. Thiền sư họ Nguyễn, quê châu Cổ Pháp, nay thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, từ thuở nhỏ đã thông minh, học thông Nho, Lão, Phật và nghiên cứu hàng trăm bộ luận Phật giáo. Năm 21 tuổi ông xuất gia, tu học với bạn là thiền sư ịnh Tuệ dưới sự chỉ dẫn của thiền sư Thiền Ông tại chùa Lục Tổ. Sau khi Thiền Ông mất, ông bắt đầu chuyên thực tập Tổng Trì Tam Ma ịa, nên sau này hễ ông nói lời gì đều được thiên hạ cho là phù sấm. Vua Lê ại Hành rất tôn kính ông. Năm 980, Hầu Nhân Bảo của nhà Tống mang quân sang đóng ở núi Cương Giáp Lãng định xâm chiếm nước Đại Cồ Việt, vua triệu ông vào hỏi nếu đánh thì thắng hay bại. Ông đáp trong vòng từ ba đến bảy ngày giặc sẽ rút lui. Lời này sau ứng nghiệm. Khi vua Lê ại Hành muốn can thiệp vào Chiêm Thành để cứu sứ giả bị Chiêm Thành bắt giữ nhưng còn do dự, thì Vạn Hạnh nói đây là cơ hội đừng để mất. Sau đó lời này nghiệm, và trận ấy quân Lê thành công. Trong cuộc vận động Lý Công Uẩn lên ngôi, ông đã tác động dư luận quần chúng bằng sấm truyền rất hữu hiệu. Sách Thuyền Uyển Tập Anh nói những loại sấm truyền và tiên tri ông dùng có rất nhiều thứ không kể hết được. Sách này kể ra một vài phương pháp đã dùng Hồi Lê Ngọa Triều đang thi hành chính sách bạo ngược bị thiên hạ ghét bỏ, thì tại Cổ Pháp có một con chó trắng xuất hiện trên lưng nó có hai chữ “thiên tử” lấm tấm bằng lông đen. Thiên hạ bèn đồn rằng con chó là tượng trưng cho năm Tuất, và một bậc thiên tử sẽ sinh vào năm Tuất sẽ xuất hiện cũng vào năm Tuất tức năm 1010. Ngày Rằm tháng Năm năm Thuận Thiên thứ 9 tức 30 tháng 6 năm 1018, khi công hạnh đã viên mãn, Thiền sư gọi đồ chúng lại dặn dò, đọc bài kệ rồi thị tịch. Vua Lý Thái Tổ và tất cả triều thần nhà Lý đến làm lễ Trà tỳ, thỉnh Xá lợi của ngài về thờ tại chùa Tiêu Sơn Bắc Ninh.[3] bài kệ như sau "Thân như bóng chớp có rồi không Cây cối xanh tươi thu não nùng Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông". Vua Lý Nhân Tông 1072-1127 có bài kệ "Truy tán Vạn Hạnh thiền sư" Toàn văn bài kệ Vạn Hạnh dung tam tế Chân phù cổ sấm cơ Hương quan danh Cổ Pháp Trụ tích trấn vương kỳ Bản dịch của Nguyễn Đức Vân và Đào Phương Bình Vạn Hạnh thông ba cõi Thật hợp lời sấm xưa Quê hương tên Cổ Pháp Chống gậy trấn kinh vua Bản dịch của Nguyễn Văn Trình 1872-1949 Học thông tam giới ghê thay Rằng thầy Vạn Hạnh thi tài rất cao. Cửa làng Cổ pháp tiếng reo Gậy tăng đủng đỉnh bay vào Đế đô. Trước năm 1975, ở miền nam Việt Nam có một viện đại học mang tên ông là Viện Đại học Vạn Hạnh. Hiện nay, nhiều thành phố ở Việt Nam có tên đường "Sư Vạn Hạnh" để tưởng nhớ một vị thiền sư đã ghi lại nhiều dấu ấn trong lịch sử dân tộc. Đại Việt Sử ký toàn thư có ghi lại bài Sấm – Vĩ của Vạn Hạnh Thọ căn diễu diễu Mộc biểu thanh thanh Hoa đào mộc lạc Thập bát tử thành Đông a nhập địa Dị mộc tái sanh Chấn cung kiến nhật Đoài cung ẩn tinh Lục thất niên gian Thiên hạ thái bình Dịch là Gốc cây thăm thẳm Ngọn cây xanh xanh Cây hoa đào rụng Mười tám hạt thành Cành đông xuống đất Cành khác lại sanh Đông mặt trời mọc Tây sao ẩn hình Sáu bảy năm nữa Thiên hạ thái bình Sưu tầm - Ban Tuyên giáo TĐ Tiểu sử Thiền sư Vạn Hạnh theo “Đại nam Thuyền uyển Truyền đăng Tập lục” “Đệ thập nhị thế, thất nhân, nhị nhân khuyết lục. Vạn Hạnh thiền sư. Thiên đức phủ, Dịch bảng hương, Lục tổ tự, Vạn Hạnh thiền sư, Cổ pháp nhân dã. Tính Nguyễn thị,gia thế phụng Phật. Sư ấu tuế siêu dị, cai quán tam học, nghiên cứu Bách luận kỳ thị hiên miện đạm như đã. Niên nhị thập nhất xuất gia dữ Định Huệ câu sự Lục tổ Thiền Ông, cân lý chi hạ, học vấn vong quyện. Ông diệt hậu, nãi chuyên tập Tổng trì tam ma địa môn dĩ vi kỷ vụ. Thời hoặc phát ngữ tất vi thiên hạ phù sấm. Lê Đại Hành Hoàng đế sưu sở tôn kính. Thiên phúc nguyên niên Tống Hầu Nhân Bảo lại khấu, đồn quân vu Cương giáp Lãng sơn. Đế triệu sư vấn viết Thắng, bại? Đối viết Tam thất nhật trung, tặc tất thoái! Hậu quả nhiên. Cập dục phạt Chiêm thành dữ nghị vị định, sư tấu thỉnh tốc hành vô thất cơ hội. Hậu chiến quả thắng. Thường hữu gian nhân Đỗ Ngân dục mưu hại sư, sư dự ư vị phát, tống dĩ kệ vân Thổ, Mộc tương sinh Ngân dữ Kim, Vi hà mưu ngã uẩn linh khâm; Đương thời Ngủ Khẩu Thu Tâm tuyệt Chân chí vị lai bất hận tâm. Ngân cụ nãi chỉ. Kỳ tiên tri vãng giám xuất đa loại thử. Thời Ngọa triều hà bạo, thiên nhân yếm đức. Lý thái tổ thời vi Thân vệ vị túc thủ thiện vị. Kỳ gian yêu tường tạp xuất như Cổ pháp Ứng thiên Tâm tự Hàm Toại viện, bạch khuyển mao bối thành Thiện tử tự, lồi chấn mộc miên thụ văn tích, Hiển Khánh đại vương mộ tứ phương dạ tụng thanh, Song lâm tự, dung mộc bì trùng thực văn thành Quốc tự đẳng sự, giai tùng kỳ văn kiến nhi biện tích chi, mỗi phù “Lê khuệ Lý hưng chi triệu”. Cố Thái tổ túc vị nhật, sư tại Lục Tổ tự tiên tri chi, vị bá thúc nhị vương viết Thiên tử dĩ băng, Lý Thân vệ tại gia Lý để thành nội túc trực, thiện sổ nhật trung Thân vệ tất đắc thiên hạ. Nãi bảng ư thông cù viết Tật Lê trầm bắc thủy, Lý tử thụ nam thiên Tứ phương can qua tĩnh Bát biểu hạ bình an. Nhị Vương văn chi thậm cụ, sử nhân tư vấn, quả như ngôn. Hậu dĩ Thuận Thiên cửu niên, ngũ nguyệt, thập ngũ nhật, vô tật thuyết kệ vân Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bổ úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. Hựu thị đồ viết Nhữ đẳng yếu vãng hà xứ? Ngã bất dĩ sở trụ nhi trụ bất ỷ vô trụ nhi trụ! Hưu khoảnh nãi thệ. Đề cập sĩ thứ thu kỳ đồ duy dư cốt khởi tháp dĩ hướng hỏa yên. Nhân Tông hữu truy tặng kệ vân Vạn Hạnh dung tam tế Chân phù cổ sấm ky; Hướng quan danh Cổ pháp Trụ tích trấn vương kỳ. Đại nam thuyền uyển truyền đăng tập lục. Dịch nghĩa Đời thứ XII dòng Tì Ni có 7 người, 2 người thiếu truyện. Thiền sư Vạn Hạnh … 1025 Thiền sư là người Cổ pháp làng Dịch bảng, phủ Thiên đức ở chùa Lục tổ. Sư vốn họ Nguyễn, đời đời trong nhà thờ Phật. Thuở nhỏ sư tỏ vẻ khác thường học thôn Tam tạng là ba học, nghiên cứu đến Bách luận. Sư coi công danh lạt lẽo. Năm 21 tuổi thì xuất gia, cùng với Định Huệ thờ Thiền Ông làm thầy ở chùa Lục Tổ. Ngoài giờ phục vụ, sư học hỏi không biết mỏi. Sau khi Thiền Ông quy tịch rồi, sư chuyên luyện tập khoa Tổng trì Tam muội lấy làm nhiệm vụ chuyên của mình, thường nói ra lời thành phù sấm tiên tri ở thời bấy giờ cho thiên hạ. Vua Lê Đại Hành hết sức tôn trọng sư. Năm đầu niên hiệu Thiên phúc 980 có tướng nhà Tống bên Tầu là Hầu Nhân Bảo đem quân đến xâm lược, đóng quân ở núi Cường giáp Lãng. Vua mời sư đến hỏi về sự thắng bại của quân ta. Sư tâu vua rằng Trong 3-7 21 ngày giặc ắt thoái lui. Sau quả nhiên như thế. Đến khi vua định đi đánh Chiêm thành triều đình bàn nghị phân vân chưa quyết, sư liền tâu xin gấp đi đánh không thì bỏ lỡ mất cơ hội. Về sau đánh quả nhiên toàn thắng. Bấy giờ có kẻ thù hiềm sư, tên là Đỗ Ngân ngầm định mưu hại, sư liệu trước khi xảy ra, cho người mang bài kệ đến y Thổ Mộc tương sinh Kim với Cân Cớ sao mưu hại giấu trong thân Lúc này lòng ta buồn hết sức Thật đến sau ta chẳng hận ngầm. Chữ Thổ với chữ Mộc là chữ Đỗ. Chữ Cân với chữ Kim là chữ Ngân. Chữ Ngũ với chữ Khẩu là chữ là Ta Chữ Thu với chữ Tâm là chữ Sầu. Tên Ngân sợ liền thôi. Đại khái nhiều sự việc như thế cả. Thời ấy vua Lê Ngọa triều bạo ngược tàn ác, trời người đều chán ghét. Lý Thái Tổ còn đang làm Thân vệ, chưa nhận nhường ngôi. Trong khoảng thời gian ấy có nhiều điềm báo trước lành dữ lẫn lộn, như ở châu Cổ pháp, chùa Ứng thiên tâm, viện Hàm toại, lông trên lưng chó trắng hiện thành chữ Thiên tử, sét đánh vào cây bông gạo thành vết chữ văn, ở mộ Hiển Khánh Đại vương đêm đến bốn phía có tiếng tụng đọc. Ở chùa Song lâm, vỏ cây xi sâu ăn thành vệt chữ quốc. Tất cả các sự ấy được sư mắt thấy tai nghe mà phân giải đều ứng vào điềm nhà Lê đổ nhà Lý lên thay. Bởi thế mà ngày Lý Thái tổ lên ngôi, sưở chùa Lục tổ đã biết trước rồi nên mới nói với anh em vua rằng “Thiên tử băng hà, Lý Thân vệ hiện đang túc trực trong thành, khoảng một ngàn ngày nữa thì Thân vệ tất được cả thành, khoảng một ngàn ngày nữa thì Thân vệ tất được cả thiên hạ.” Rồi sư thông báo yết bảng trên đường đi lại rằng Nhà Lê chìm biển tắc Nhà Lý nẩy phương nam Bốn phương hết đâm chém Khắp nước hưởng bình an. Hai ông Hoàng nghe thấy rất sợ, sai người dò hỏi thì quả thật như lời. Về sau vào niên hiệu Thuận thiên thứ 16 1025 ngày 15 tháng 5 sư không bệnh, thuyết bài kệ Thân người chớp nhoáng có rồi không Cây cỏ xuân tươi, héo thu đông Tùy vận thịnh suy không sợ hãi Thịnh suy ngọn cỏ hạt sương trong. Lại bảo đệ tử rằng Các con đòi đi đâu về đâu? Ta không lấy nơi dừng để dừng, không nương vào nơi không dừng để dừng”. Được một lát thì mất. Vua Lý Thái tổ cùng các quan dân thu lượm xá lỵ hỏa thiêu, còn lại xây tháp để phụng thờ. Vua Lý Nhân tông về sau có bài kệ truy tặng Vạn Hạnh họp ba kiếp Chân thật lời sấm xưa Quê hương tên Cổ pháp Gậy Pháp giữ nghiệp vua. Trên đây là tài liệu chính thức cốt yếu về Vạn Hạnh theo sách “Thiền uyển truyền đăng tập lục” một tác phẩm đầu nhà Trần đáng tin cậy, đã được các học giả “Trường Viễn đông bác cổ” E. F. E. O ở Hà nội kiểm nhận là tài liệu lịch sử chính xác. Ngoài ra nói về Vạn Hạnh ở chính sử cũng thấy những điều phù hợp với “Thiền uyển truyền đăng tập lục” trên đây. Việt sử lược có ghi, liên quan đến Vạn Hạnh như sau “ Vua Lý Thái tổ khi còn bé đã thông minh khí độ rộng rãi. Du học chùa Lực tổ, sư Vạn Hạnh trong thấy vua lấy làm lạ nói rằng “ Đây là một người phi thường! Sau này lớn mạnh lên, tất có thể cứu đời, yên dân, làm chúa thiên hạ!”. … Trong hương vua ở có cây gạo bị sét đánh, để dấu vết thành chữ như sau Thụ căn diểu diểu Mộc biểu thanh thanh Hòa đao mộc lạc Thập bát tử thành. Chấn cung hiện nhật, Đoài cung ẩn tinh. dịch Rễ cây thăm thẳm Vỏ cây xanh xanh. Cây hòa đao rụng, Mười tám hat thành Phương đông hiện nhật Non đoài ẩn tình. Khoảng sau bẩy năm Thiên hạ thái bình. Sư Vạn Hạnh bèn nói với vua rằng “Gần đây, tôi thấy lời sấm lạ, biết rằng nhà Lê tất phải mất mà nhà Nguyễn Lý tất phải lên. Họ Nguyễn Lý không ai nhân từ khoan dung như ông,lại được lòng dân. Tôi đã hơn 70 tuổi, chỉ ân hận không kịp thấy đời thịnh trị mà thôi”. Vua sợ lời nói ấy bị tiết lộ, bảo Vạn Hạnh đến ẩn náu ở Ba sơn. Việt sử lược II, 1b Năm Thời Sĩ trong “Việt sử tiêu tán” cũng ghi và bình về Vạn Hạnh rằng “Vạn Hạnh vô bệnh mà chết, người đời bấy giờ bảo là ông hóa thân. Vạn Hạnh có bài thơ rằng Thân như điện ảnh hữu hoàn vô. Vạn mộc xuân sinh thu hựu khô. Nhậm vận thịnh suy vô bố úy. Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. Vua thân đến thăm, lập đàn siêu độ. Sử thần bàn rằng “Vạn Hạnh có kiến thức cao siêu, thần toán, biết trước mọi việc cũng là tay xuất sắc trong giới thiền, nhưng mà hay xách ẩn hành quái chỉ tu luyện về thuật không tu luyện về đạo, tạo ra các câu sấm, lưu truyền làm mê hoặc cho đời, mở mào ác nghiệp cho đời sau. Nhà Phật nói rằng “Hết thẩy đều do tâm người tạo nên. Vạn Hạnh là thủ phạm đấy. Tiểu sử chỉ chép là “tử” đáng lắm. “Việt sử tiêu án” – Ngô gia văn phái Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ – Bản dịch Văn hóa Á châu trang 112-113. TỪ YÊN LẶNG CỦA ĐỨC PHẬT ĐẾN THIỀN CỦA VẠN HẠNH Như chúng ta đã biết Vạn Hạnh từ Phật giáo nguyên thủy của Tam học là Giới, Định, Tuệ đi đến triết học Trung quán của Bách luận rồi mới gia nhập vào Thiền tông Tì Ni Đa Lưu Chi, vì Tì Ni cũng từ triết lý “Bát bất” của Long Thọ để dẫn Pháp Hiền vào Thiền học. Ý thức nhân loại khai triển qua ba giai đoạn từ giáo điều phác nghiệm đến phản tình suy lý, lại từ suy lý đến giác ngộ là trực giác thuần túy. Ở đây Vạn Hạnh cũng từ Phật giáo nguyên thủy là tín ngưỡng giáo điều đi đến phê phán lý trí tức là triết học Đại thừa mà Trung quán luận là nồng cốt tinh hoa vậy. Giáo lý nguyên thủy của đức Phật Thích ca lịch sử là Tứ Diệu đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Bát Chính đạo Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chánh Tinh tiến, Chính niệm, Chính định. Thập nhị nhân duyên Danh sắc Nama Rupa Tên gọi Hình tướng Lục nhập Sadayatana Sáu giác quan Xúc Sparsa Tiếp xúc Thụ Vedana Cảm giác Ái Trsna Khát vọng Thủ Upadana Thu nhận Hữu Bhava Sinh tồn Sinh Jati Lão tử Jaramarana. Trên đây toát yếu giáo lý của Phật, không phải một hệ thống triết lý mà là một con đường giải thoát, một chỉ dẫn để khai thông cho cái dòng sinh mệnh khỏi bế tắc. Đấy không phải là lý thuyết. Phật tránh lý thuyết mà chỉ bảo cho đường lối sống thông đồng khai phóng, vì “bất thông tắc thông” “bế tắc thì đau khổ”. Đúng như một bánh xe bò đang lăn, chỉ có một điểm của bánh xe chấm đất. Và khi nó dừng lại cũng chỉ dừng ở một điểm. Cũng đúng như thế mà cuộc đời sống của một chúng sinh chỉ tồn tại trong khoảnh khắc sạt-na của một ý niệm. Hể niệm ấy tắt thì sinh tồn cũng dứt… Bánh xe điều lý vũ trụ vận hành lăn đi không có sáng tạo vô thủy vô chung.” Visuddhimagga Biến động sinh thành thi ngụ ở bên trong có đối kháng mâu thuẫn. Chừng nào đứng ở bên trong mà tìm ngoi ra như dòng sông chảy ra biển thì chỉ biết thể hiện khai triển mà tự đặt vấn đề tri thức có hay không, sinh tồn vĩnh cửu hay không vĩnh cửu. “Chủ trương thế giới vĩnh cửu hay chủ trương nó không vĩnh cửu, hoặc biểu tình với một mệnh đề nào khác anh suy diễn ra, này Vaccha, ấy là một rừng thuyết lý, hoang vu thuyết lý bối rối thuyết lý, ràng buộc rừng chằng chịt về thuyết lý, lâm vào bệnh hoạn, tuyệt vọng, cuồng loạn, phát sốt. Nó không đưa đến cởi mở tự do thản nhiên, bình tĩnh, an hòa, hiểu biết và trí tuệ về Niết bàn. Đấy là sự nguy hiểm Ta thấy ở những quan điểm khiến ta gạt bỏ đi hết thẩy. Trung A hàm Majjh. Nikaya Và bài thuyết pháp đầu tiên tại thành Lộc đã sermon at Saanatha đức Phật Thích ca cũng tuyên bố “Này các thầy sa môn! Ở đời có hai điều thái quá, người tu đạo phải lánh cho xa. Hai điều ấy là gì? Một là đam mê trong sắc dục, hai là tự bắt khổ hạnh. Như lai đã tìm thấy con đường Trung Đạo để mở mắt, mở trí cho người đời khiến cho họ tinh thần bình tĩnh, thông suốt sáng tỏ tới Niết Bàn. Tới Niết bàn là ra khỏi, vượt lên trên thế giới đau khổ của sinh tồn vô minh tức là thế giới tương đối nhân duyên khởi vậy, Thuyết Nhân duyên là cơ bản giáo lý đức Phật chủ trương biện sinh là liên hệ, mà bắt đầu từ ý chí sinh tồn mê lầm, vô minh. Diệu đế I chính là Vô minh – Hành là hệ lụy nên Đau khổ vì Hành là do năng lực Nghiệp hay là động tác phản ứng vô thủy vô chung. Diệu đế II cho ta nguyên nhân đau khổ Hành, Thức… Lão tử Diệu đế III cho ta cách diệt Khổ. Khổ là Nghiệp báo, luân hồi. Diệt khổ là Đạo đế Niết bàn. Luân hồi và Niết bàn là hai phương diện của một Thực tại tuyệt đối nhìn ở quan điểm thế gian tương đối. Luân hồi samsara và Niết bàn Nirvana hỗ hệ cùng có, cùng mất bởi vì Tuyệt đối biểu hiện là Tương đối và hành động như sợi giây liên hệ khiến chúng có điều lý và nghĩa lý. Công thức nhân quả là cái này hiện ra liền có cái kia vì lệ thuộc vào Nhân nên Quả phải hiện. Như thế mỗi đối tượng của ý nghĩ tất nhiên là tương đối. Và vì tương đối nên không thật một cách tuyệt đối. Tất cả hiện tượng đều lệ thuộc hai cực đoan Có và Không, đấy là Maya Ảo hóa. Cho nên thực tại tuyệt đối thì ở trên cả Có và Không bất khả tư nghị, cho nên Phật Thích ca đã yên lặng đối với những câu hỏi của đạo sĩ Vacchagotta về có hay không của cái Ngã cái nhân và thế giới nhân duyên. Đạo sĩ hỏi Phật Kính bạch Gotama, không có tự tính hay sao? Đức Phật yên lặng. Đạo sĩ hỏi B ạch Ngài, có tự tính hay sao? Đức Phật yên lặng. Sau khi Đạo sĩ đi khỏi, A Nan bạch với Phật Sao Thầy không trả lời câu hỏi của Đạo sĩ hành khất Vacchagotta? Phật đáp Này A Nan nếu trả lời câu hỏi của Đạo sĩ hành khất “Có một tự tính self?” Ta đáp y “Có một tự tính!”, bấy giờ Ta sẽ cùng phe với hạng ẩn sĩ và Bà la môn chủ trương thuyết hằng cửu e1terinahsme. Nếu đối với câu hỏi “Không có một tự tính sao?” Ta đáp y là “không có!” bấy giờ ta sẽ cùng với hạng ẩn sĩ và Bà la môn chủ trương thuyết hư vô minh nihilism. Này A Nan, nếu ta trả lời câu hỏi của Đạo sĩ hành khất “Có tự tính không?” rằng “Có!” như thế có hợp sự biết mọi vật đều vô thường không? Hẳn là không, A Nan thưa. Lại nữa, khi Đạo sĩ hành khất hỏi “phải chăng không có tự tính?” Ta đã trả lời rằng “không là như thế sẽ làm cho Đạo sĩ đang bối rối càng bối rối hơn, vì y sẽ bảo “Trước kia, thật ta đã có một tự tính, nhưng bây giờ ta lại không có nữa!” – Tập A Hàm “Samytla Nykàya” IV. Đấy là đức Phật tránh thái độ giáo điều của các lý thuyết về thực tại để trung thành với thái độ của Ngài là một sự phê phán thực nghiệm để vượt lên trên bình diện tương đối của thế giới hiện tượng nhân duyên khởi. Lại như khi Đạo sĩ hành khất hỏi Nhưng Gotama có một lý thuyết nào riêng không? Ngài đáp Này Vacchagotta, Như lai đứng ngoài tất cả lý thuyết. Nhưng này Vaccha, Như lai biết “Bản tính của hình tướng và hình tướng nổi lên và biến đi thế nào… Bởi vậy nên Như lai đã đạt giải thoát và ở ngoài hệ lụy nhất là về những tưởng tượng hay là những giao động hay là những quan niệm sai lầm có liên quan đến một cái Ngã hay là bất cứ cái gì thuộc về một cái Ngã đều tan biến, đã bị tiêu diệt, đã hết, đã bị trừ bỏ” Majj. Trung A. Hàm kinh. Đức Phật không lý thuyết về hình danh sắc tướng mà biết sắc tướng là sắc tướng, lý thuyết và lý thuyết. Ngài thấy nguyên lai của nó, kiến tính nó là đau khổ và con đường để giải thoát khỏi hình danh, sắc tướng cũng như Ngài biết tất cả yếu tố cấu tạo ra cái giả ngã, ảo tình và biết như thế là tự ý thức về nó và do đấy mà giải thoát khỏi nó. Khi ta dùng lý trí về suy luận theo cách giáo điều đề lập thuyết này, thuyết khác, ta không ý thức về tính chất của nó, nó tác động thế nào. Nhưng khi nào ta phê phán để tìm hiểu cơ cấu của lý trí, ta biết lý trí hoạt động trong vòng Có, Không, Phải, Trái, nghĩa là trong lưỡng luận bội phản antinomies, bấy giờ ta thấy lý trí không thể đạt tới cái gì không lệ thuộc, không nhân duyên để tìm vượt lên bình diện trên Lý trí. Do đó mà Phật bài bác lý thuyết như là bệnh hoạn trên kia ; ngụ ý tất nhiên là thái độ phê phán lý thuyết tự nó không phải là lý thuyết hay quan điểm. Đấy là lý do sự im lặng của Đức Phật tiên phong cho cái biện chứng toàn diện “Không” hay cái đạo Trung quân, bởi vì thái độ Trung đạo của đức Phật không phải dung hòa các quan điểm mà vượt lên bình diện “không quan điểm”. Sách “Truyền đăng lục” Việt nam phổ thông lưu truyền sự tích các Tổ Thiền tông, thấy ghi về nguồn gốc thiền như sau Lời Thiền sư Thông Biện năm 1134 thời nhà Lý tâu với Hoàng Thái Hậu Cảm Linh Nhân Dịch nghĩa “Phật là biết giác ngộ vậy. Cái biết giác ngộ ấy vốn bản lai thâm thúy, thường còn bất biến. Hết thẩy chúng sinh đều cùng cái nguyên lý ấy. Song vì tình dục che lấp nên tùy theo nghiệp mà trôi nổi chuyển thành các xu hướng. Đức Phật động lòng từ bi cho nên giáng sinh xuống cõi đất Thiên trúc, vì là điểm chính giữa của Trời, Đất vậy. Mười chín tuổi xuất gia, ba mươi thành đạo, ở lại thế gian thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm, mở ra các loại quyền pháp phương tiện khiến cho người ta giác ngộ đạo lý. Đấy là một thời đại tôn giáo hưng thịnh vậy. Khi Ngài sắp nhập Niết bàn, lo sợ người đời ngu mê ngưng trệ, có gọi Văn Thù mà bảo rằng “Suốt bốn mươi chín năm Ta chưa từng thuyết lý một chữ, sắp sửa bảo Ta có thuyết lý chăng?” Nhân lúc ấy cầm cánh hoa giơ lên. Đại chúng hoang mang chỉ có một mình Ca Diếp Kassiapa nở mặt mỉm cười. Đức Phật biết ông ta đã thông hiểu, bèn lấy tôn chỉ Chính Pháp nhãn tạng giao phó cho. Thế là Tổ Thiền tông thứ nhất. Thế gọi là truyền giáo riêng ngoài giáo lý của dòng tâm tông vậy.” – Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục Đoạn văn dẫn trên đây của một thiền sư Việt nam đủ chứng minh tôn chỉ Thiền “giáo ngoại biệt truyền chi tâm tông” là giai đoạn thúc kết tự nhiên từ thái độ yên lặng của đức Phật qua biện chứng Trung quân để đi đến thực nghiệm ý thức Không hư Sunyata tức là Thiền vậy. Murti viết trong The Central philosophy of Buddhism – London 1955 “Đức Phật tuyên bố Sắc rupa Thụ vedana… đều huyền ảo, chỉ là bọt nổi Trong Trung A hàm Majjhima Nikaya có nhận định “Nương tựa vào đầu và bấc mà ngọn đèn cháy, nó vừa chẳng phải ở tại cái này hay ở tại cái kia, hay là ở tại cái gì nối chính nó, hiện tượng như thế tự chúng chẳng là cái gì hết. Tất cả tạo vật đều không có thật, chúng đều là những ảo vọng, chỉ có Niết bàn là thật.” Nagarjuna Long Thọ căn cứ vào văn kiện ấy khi ông nói “Khí đức Thế tôn tuyên bố rằng nó là ảo vọng và huyền tưởng, Ngài ngụ ý không hư Sunyata – sự vật nhân duyên khởi”… Lập trường của Trung quán Madhyamika đã được chứng minh ở một số kinh văn trừ danh. Đức Phật dạy chúng ta rằng có hai quan điểm chính là sinh tồn và không có sinh tồn. Không một ai chấp vào một trong hai quan điểm ấy có thể hy vọng thoát khỏi gọng kìm của sống chết luân hồi samsara. vọng thoát khỏi gọng kìm của sống chết luân hồi samsara. – Majj. N. I – Udana – Jtivuttaka. Kaccàyana muốn biết tính chất của chính kiến sammaditthi và Thế tôn bảo ông ta rằng thế giới quen thói tin cậy vào lưỡng tính, vào “Nó có” atthitam và “ Nó không có” natthitam, nhưng đối với ai tri giác dùng sự thật và chân lý, như thế nào sự vật thế giới hiện lên và biến đi, đối với người ấy thì không còn “Có” và “Không có”. “Cho rằng sự vật có” là một cực đoan khác. Không thừa nhận hai cực đoan, đấng Thế tôn tuyên bố chân lý pháp, dharma là Trung đạo, Nagarjuna căn cứ vào đoạn kinh văn ấy trong Karikas của ông để tuyên bố rằng Thế tôn đã từ chối cả quan điểm Có và Không nghĩa là tất cả quan điểm.” sách dẫn trên của Murti tr. 50. 51 Vạn Hạnh chắc cũng muốn tìm vượt lên trên quan điểm Có, Không, và cuối cùng ông đã thành tựu như Thiền sư dặn lại đệ tử khi lâm chung “Các con đòi đi đến đâu? Ta không lấy chỗ trụ để trụ, không nương tựa vào chỗ không trụ để trụ!” Như thế là vì Vạn Hạnh đã sớm từ Phật giáo nguyên thủy và Tiểu thừa có khuynh hướng tiêu cực giáo điều của Tam học để đi sang triết lý phê phán của Bách luận. Trung quán Đại thừa tích cực và xã hội. Hoàn cảnh văn hóa chính trị Việt nam thời bấy giờ nào Ngô Quyền thắng quân Nam hán ở trận Bạch đằng, lập căn bản khôi phục quốc thống, nào Đinh Tiên Hoàng thống nhất thập nhị sứ quân, phong trào cách mệnh giải phóng dân tộc đang bồng bột, làm thế nào mà Vạn Hạnh có thể theo dòng Vô Ngôn Thông có thái độ Phật giáo Thiền tiêu cực vô vi được. Huống chi, trong giới Phật giáo đương thời nhất là dòng Tì Ni Đa Lưu Chi, đa số thiền sư đều nhiệt tâm về thời thế như Định Không 808. La Quý An 934 chẳng đã tỏ lòng mong mỏi “minh vương”. “La Quý An thường đúc 6 pho tượng Lục tổ bằng vàng, dặn lại học trò “Nếu gặp minh vương thì cho xuất hiện, gặp âm chúa thì cất giấu đi”. – Thiền uyển truyền đăng tập lục. Hay là khi thầy Thiền đệ tử Đinh Hướng sắp tịch, bảo La Quý An rằng - Ngày xưa thầy ta là Định Không thường dặn ta ; Con giữ đạo pháp của thầy, gặp người họ Đinh thì sẽ truyền idem. Lại như “Pháp Thuận thiền sư… học rộng, có tài vương tá hiểu biết rõ việc đời.” Cả đến Khuông Việt Đại sư 938-1012 từng tham gia vào công cuộc khai quốc buổi đầu dân tộc giải phóng. Tất cả những sự kiện trên tạm chứng minh cái khuynh hướng tinh thần của thời đại đã lôi cuốn tất cả giới trí thức nhà chùa là lò đào tạo duy nhất. Bởi thế nên Vạn Hạnh không thể không đi vào triết học Đại thừa để thành Bồ tát mà tế độ đồng bào, tham gia vào công việc chính trị giải phóng dân tộc. Vì Đại thừa về phương diện tôn giáo có một căn bản triết lý đặc biệt khác với tông phái trước kia về ba điểm Quan điểm về Bản ngã siêu nhiên của đức Phật lokattara như là bản thể của hiện tượng. Lý tưởng Bồ tát Bodhisattva về tế độ cho tất cả chúng sinh chống với sự tế độ riêng và vị kỷ chính mình của Thanh văn Thừa và đạt đến Phật cảnh viên mãn thay vì cảnh A la hán. Siêu hình học của Không Hư sunyata tuyệt đối thay vì một đa nguyên triệt để của những yếu tố cùng tột. Trung quán luận là một hình thức hệ thống hóa về thuyết không sunyata của Bá Nhã ba la mật bộ Prajnaparamita. Hai vị Bồ tát có công sáng lập nhất của hệ thống triết học vĩ đại của Đại thừa này là Nagarjuna 150s. và Araya Deva 180-200 mà Hán văn dịch là Long Thọ và Thánh Thiên. Thánh Thiên là cao đệ của Long Thọ, đã thừa kế truyền thống của Thầy nhờ thế mà Tam luận tông được truyền bá. Chính Thánh Thiên là tác giả bộ Bách luận satasatra, một trong Tam luận mà Vạn Hạnh đã nghiên cứu trước khi xuất gia, vào dòng Thiền của Tì Ni Đa Lưu Chi vậy. “Bách luận” là bước đầu của biện chứng toàn diện Chân Không, gồm có 7 phá phẩm là Phả chủ thuyết thế giới còn mãi. Phá chủ thuyết có cái Ngã cá nhân biệt lập. Phá chủ thuyết thời gian khoảnh khắc có thật. Phá tất cả quan điểm tri thức. Phá cảnh, không có sự vật đối tượng của ý thức tri giác có thật độc lập khách quan. Phá chấp vào lưỡng tính tương đối có, không. Phá hình tướng nhân duyên, có thì chỉ có thật tương đối thôi, tự chúng không có thật độc lập. “Theo Thánh Thiên Arya Deva thì thế giới, ví như ngọn lửa truyền trên cành cải, chỉ là một trò quỷ thuật, ảo hóa, một mộng huyễn, một phản ảnh, một âm vang, một bóng mây, bóng trăng đáy nước Thủy nguyệt. Nhưng Thánh Thiên cũng chủ trương thực tại phác nghiệm của tất cả hiện tượng. Ngài nói “vị kỷ còn hơn là hư vô. Học thuyết của chúng ta không phải hư vô.” Sự Thực Vô ngã là vượt lên trên cái Ngã phác nghiệm tương đối. Thực tại là Tự Ngã thuần túy Cita. Ở tại bản tính của nó thì nó vượt lên trên biện biệt. tuyệt đối thuần túy, bất nhiễm và tự mình. Vì vô minh nên nó hiện ra là trí thức in-tellect cũng như đóa hoa trắng hiện ra có màu vì có một vật có màu để bên cạnh nó. Viên ngọc Tự Ngã, hiện ra bị nhơ bùn của vô minh. Một người hiền tức khắc phải nỗ lực thành trừ nhơ bùn ấy đi hơn là để cho nhơ bùn thêm. Vô minh là sai lầm, cũng vì như khỉ biết là sà cừ thì trai bạc biến mật, khi biết là cái thừng thì cái thừng – rắn biến di. Cũng biến như thế mà khí trí tuệ mở ra thì vô minh tan biến vậy.” – Indian Phylosophy – Chamdradhar Sharma cd. Burner noble Vạn Hạnh nghiên cứu Bách luận của Thánh Thiên Arya Deya tức là mới nghiên cứu biện chứng phá chấp “Bát bất” của Long Thọ Nagarjuna, theo đấy thì ngoại vật khách thể và tâm chủ thể, vật chất, vận động, nhân quả, không gian, thời gian, phẩm tính, liên hệ, chất thể, linh hồn, thượng đế, tôn giáo, đạo đức, luân lý, Tứ diệu đế, Niết bàn và Thích ca đều là những thần cách hóa. Nhưng ở quan điểm kinh nghiệm thì chúng hầu như có thật mặc dầu cuối cùng đều tan chìm vào Tuyệt đối. Đấy là kết quả biện chứng phá chấp của Thánh Thiên Arya Deva ở Bách luận, cũng như của Long Thọ Nagarjuna ở Madhyamika Karika Tam luận tông. Biện chứng pháp là một vận động tinh thần tự giác, ắt là một sự phê phán lý trí trong công việc tìm biết Thật tại tối cao. Không thể có sự phê phán lý trí nếu người ta không ý thức về sự mâu thuẫn của chính đề these và phản về antithese hay là hai quan điểm trái nghịch để giải thích cùng một sự kiện. Hai quan điểm trái nghịch mâu thuẫn không phải là biện chứng pháp vì đấy mới chỉ là một mệnh đề tạm thời có quan hệ đến một tình thế đặc biệt mà thôi. Biện chứng pháp là cả một vận động mâu thuẫn của toàn thể thế giới “ La dialectique est le movement de I’être”, “Biện chứng pháp là vận động của hữu thể”. Trong thường thức và trí thức khoa học thì không có sự mâu thuẫn ấy, tuy người ta dùng hai hay nhiều quan niệm chống đối để giải thích sự vật, có vật được coi như chớp nhoáng nhất thời, có vật coi như bất biến, tồn tại. Người ta ứng dụng cách thức phát triển hữu cơ ở khoa sinh lý và nhân văn, cách thức cơ giới ở khoa vật lý, vậy mà cả hai cách thức không được ứng dụng để giải thích một loại sự kiện hay là không một cách nào được dùng như cách thức phổ quát. Nhưng ở triết học thì khác. Triết học lựa lấy một hình thức kiểu mẫu nào trong nhiều sự kiện đem phóng đại nó ra , rồi phổ quát nó đến kiểu mẫu hay khái niệm được lựa chọn và phổ quá hóa như thế trở nên một Ý niệm của Lý trí vì ở kinh nghiệm thì không có sự gì phổ quát cả, có chăng chỉ là tương tự thôi. Chúng ta không phải bắt buộc lựa chọn một quan điểm đặc biệt nào nếu chẳng phải tự mình thích riêng. Nhưng một khi đã lựa chọn rồi thì ý thức hay vô ý thức chúng ta có khuynh hướng phổ quát hóa thành một nguyên tắc thẩm định giá trị, thành một tiêu chuẩn chung. Đấy là cái bệnh “vơ đũa cả nắm” “con sâu bỏ rầu nồi canh” như phương ngôn thường thức Việt hay nói. Như thế đủ tỏ mỗi hệ thống triết học là một sự thẩm định giá trị theo một tiêu chuẩn đặc biệt nào. Mỗi hệ thống triết học đều là cả một thế giới quan đầy đủ, một cái Duy – Isme. Ở khoa học thực nghiệm các giả định có thể gọi đến sự thử thách của thực nghiệm giác quan chứ như ở giả định triết học thì không có chỗ chứng minh như thế được, vì ngoài suy lý còn phải thí nghiệm chứ như triết học thì chỉ có sự suy lý trừu tượng siêu giác quan. Không có kinh nghiệm thực tế nào có thể hoàn toàn thích hợp với Ý niệm của Lý trí cả, nhưng tất cả kinh nghiệm thực tế đều thuộc về Lý trí. “Tout ce qui est rèel est rationnel, tout ce qui est rtonnel est réel” Hegel, “Tất cả cái gì có thực đều hợp lý, tất cả cái gì hợp lý đều có thực.” Đây là luận điệu của triết gia biện chứng duy lý. Bởi thế mà triết học nghiên cứu cho có hệ thống đều dẫn đến sự tự mâu thuẫn không lối thoát. Biện chứng pháp ngụ trong triết học là ý thức các tình trạng xung đột mâu thuẫn ấy ở lý trí để tìm cách giải quyết vậy. Nhưng giải quyết mâu thuẫn theo biện chứng pháp cũng khác nhau như biện chứng pháp duy tâm của Hegel bên Âu tây cận đại với biện chứng pháp Trung quán của Phật giáo Đại thừa. Biện chứng pháp của Hegel có tính cách tổng hợp các quan điểm chính đề these phản đề antithese và tổng hợp đề synthese. Nhưng quan điểm ấy rút mâu thuẫn ở sự phân tích hợp lý các khái niệm danh lý chứ không căn cứ vào thực nghiệm thành thử biện chứng pháp duy tâm hay duy vật chỉ là quá trình vận động từ khái niệm sang khái niệm, mỗi khái niệm càng thêm phong phú hơn nhưng không ra ngoài phạm vi của lý trí. Nó vắt một khái niệm cho đến hết ý nghĩa bên trong, khái niệm Có với khái niệm Không đến hết mâu thuẫn để biến thành một khái niệm mới phong phú hơn về ý nghĩa bao hàm cả Có lẫn Không. Khái niệm tổng hợp này lại là khởi điểm cho một quá trình biện chứng chính, phân, hợp khác. Cứ thế mà tất cả vận động biện chứng của Hegel chỉ là hình thức, lý tưởng vì Hegel đồng nhất tư tưởng với thực tại Réel với Rationnel. Biện chứng pháp Trung quán không tìm giải quyết mâu thuẫn của lý trí, nó vượt lên tất cả mâu thuẫn vì nó không thừa nhận tất cả quan điểm, không cho lý trí có khả năng bao hàm thông suốt Thực tại toàn diện viên dung. Thực tại siêu việt cả tư duy, lý niệm. Nó chỉ căn cứ vào sự mâu thuẫn nội tại trong mỗi quan điểm tìm biện chứng giải thoát, cho nên trên bình diện luận lý nó hoàn toàn phân tích, phủ định, Không synya. Người ta có thể nhìn một vấn đề theo bốn quan điểm khác nhau, hai quan điểm căn bản Có và Không, Khẳng định hay Phủ định và hai quan điểm phụ vừa Có vừa Không, chẳng Có chẳng Không nghĩa là khẳng định cả hai quan điểm Có, Không hay là phủ định cả, khẳng định và phủ định không thể qui về một được chúng là hai mặt của một đồng tiền hay là của một cái thuẫn, mặt trái và mặt phải đều có cả và khác nhau. Bốn cách nhìn trên có thể là cái khung để thu xếp thành loại tất cả hệ thống triết học. Cái thực tại coi như Hữu vi, nhất phiến, phổ quát và đồng nhất khắp cả là quan điểm khẳng định. Ở triết học Ấn độ đây là truyền thống Hữu ngã Atmavada coi Atman là Sat, là thực tại duy nhất. Quan điểm Phật giáo cũng như của Hume là Phủ định thực tính phổ quát tính, đồng nhất tính và coi thực tại là Asat Không Vô. Quan điểm Trung quán từ chối tất cả quan điểm. Nó dùng luận lý “phản phúc suy lý” reduction à I’absurde để chứng minh bất cứ quan một quan điểm nào cuối cùng cũng tự mâu thuẫn với nó. Bất cứ một mệnh đề nào cũng quay trở lại chống với chính mình. Biện chứng cho một chính đề nào của riêng mình. Đây là phương pháp mà Kant bên Âu tây đã dùng trong “Nhị luận bội phản” antinomie of raison như là một biện chứng nghịch lý thuyết minh. Hoặc như biện chứng của Phật giáo về khoảnh khắc tính của thực tại để phá thường trụ vô căn cứ. Nguyên lý của biện chứng pháp hay là triết học biện chứng là tinh thần phê phán không có cái gì tự tại, tất cả đều quan hệ nhân duyên khởi. Một thực kiện kinh nghiệm khi đem ra phân tích đều có cơ sở bên trong cơ cấu của nó. Nó không phải một tự tính độc lập, mà chỉ có trong quan hệ với vật khác ví dụ luận lý Nhân quả. Chúng ta phải phân biệt Nhân với Quả và đồng thời có quan hệ đồng nhất giữa Nhân và Quả. Quan hệ Nhân Quả không thể quan niệm như hoàn toàn đồng nhất hay hoàn toàn khác nhau, hay là vừa đồng nhất vừa khác biệt. Chúng ta không thể trừ bỏ phủ nhận tất cả. “Không một trong những vật ấy có thể thiết lập như có thật mà không được quan niệm hoặc như đồng nhất hay là khác biệt cái nọ với cái kia.” Long Thọ. Quan điểm thể tính cho rằng có thể có thể tính không thuộc tính hay sắc tướng. Quan điểm sắc tướng lại chủ trương không cần thể tính. Tuy nhiên không từng thấy ở đâu có thuộc tính attribute mà không có thể tính substance hay là trái lại. Long Thọ hay Thánh Thiện cùng biện luận về sự quan hệ giữa một người với sự xúc động của nó mà cho rằng chúng chẳng là gì về toàn thể hay đứng riêng biệt. Không thể chứng minh cá thể là có thật độc lập hay là cả “thể” lẫn “dụng” không có tự ngã ngoài tâm trạng hay tâm trạng ngoài tự ngã để thống nhất chúng lại. Chứng cũng chẳng là gì về toàn thể cả. Lửa không phải là Dầu, sự cháy không phải chất cháy nhưng Dầu cũng không rời được Lửa vì không có Dầu thì cũng không có Lửa. Không chất cháy thì hết sự cháy. Tóm lại Thể lệ thuộc vào Dụng và trái lại. Thể Dụng hỗ tương mà có. Mọi sự vật đều phải hiểu như thế cả, vừa Thể vừa Dụng. Chúng đã qua tương quan mà có thì chúng không có thật một cách tuyệt đối. Quan hệ hỗ tương phải là hỗ tương giữa các tác dụng khác nhau, chống đối hay trái nghịch với nhau. Nhưng coi như tương quan có nghĩa là cái nọ lệ thuộc vào cái kia thì phải đi đến có sự đồng nhất cái nọ với cái kia. Nhưng đã tương quan thì lại phải phân biệt. Như thế thì không có sự tương quan giữa những cá thể đồng nhất với nhau hay dị biệt với nhau. Vậy Nhân và Quả cũng như Thể và Dụng, chủ thể và khách vật… đều chỉ là tương đối có chứ không phải vật tự thân có. Cái gì tương đối mà có thì không thật, chỉ là chủ quan. Những phạm trù catégorie, đều là những khái niệm phương tiện mà lý trí dùng để thâu đạt thực tại bản nhiên tuyệt đối. Thực tại này không thể phạm trù hóa và biến thành tương đối. Lý trí hay trí thức đã giả tạo sự thực, không một hiện tượng của trí thức nào có thể vượt khỏi được vòng tương đối đại đồng. Đối với Trung quán thì tương quan là thiếu thể tính nội tại. Thực tại Tattva là cái gì tự nó có thực, tự tại, tự tồn. Lý trí hiểu sự vật qua sự phân biệt và quan hệ là một nguyên lý giả tạo, vì nó bóp méo sự thật, che lấp thực tại tự tính. Chỉ có Tuyệt đối là thực vì không lệ thuộc vào điều kiện bởi thế mà không có thể quan niệm Tuyệt đối như Hữu bhava hay Vô abhava hay là vừa có – Hữu vừa không – Vô được. Hữu, phi hữu câu phi Chư tông giai tịch diệt. Bách luận Nghĩa là Có, chẳng có đều sai Các tông phái tắt ngấm”. Như thế thì theo “Bách luận” là phải phá hết quan điểm tranh biện để thực nghiệm tại thân cái ý thức vượt quá tất cả quan điểm Có, Không, đạt tới bình diện trực giác Bát nhã Prajna Bát nhị pháp. Đấy chính là thái độ của Pháp Hiền sau khi nghe sư phụ Tì Ni thuyết cho biện chứng pháp phủ định Tam luận tông bèn bỏ vào núi Tiên du để tu định “thân hình như cây khô” “ vật ngã câu vọng” tâm vật, năng sở đều biến hóa đi mất. Và Vạn Hạnh, sau khi nghiên cứu xong Bách luận, bèn xuất gia theo Thiền. Ông tu luyện cho đến khi Thiền Ông tịch rồi mới chuyên tâm vào thiền định, luyện tập khoa sinh lý tâm lý thực nghiệm biến hóa khí chất. “Ông diệt hậu, nãi chuyên tập Tổng trì tam ma địa Samadhi môn dĩ vi kỷ vụ.” – Thiền uyển truyền đăng tập lục Nghĩa là Sau khi Ông mất, bèn chuyên tập Khoa Tổng trì tam ma địa tức khoa Thiền định lấy làm con đường của mình.” Phải chăng Vạn Hạnh chuyên tu Thiền ở đây là nói theo Pháp Hiền của dòng Tì Ni để đi đến tâm trạng “Vật ngã câu vong” hay là noi theo Vô Ngôn Thông ngồi quay mặt vào tường, “không nói mà thông hiểu suốt” “Vô ngôn nhĩ thông”, “Vật ngã câu vong” là trình độ ý thức trực giác tối cao của nhà tu đạo Phật, vì đạo Phật là một tôn giáo đặc biệt không lấy sự cầu nguyện thần linh, trước sau chỉ lấy tâm làm trọng tâm và cái khế cơ tâm về tôn giáo trong Phật giáo chủ yếu là ở sự tu dưỡng Thiền định. Theo Kimura Taiken trong “Tiểu Thừa Phật giáo tư tưởng luận” hay “Nguyên Thủy Phật giáo tư tưởng luận” do Thích Quảng Độ dịch ra Việt văn “A Tỳ Đạt Ma chia mục đích tu Thiền thành ba hay bốn loại, nhưng lấy bốn làm thông lệ. 1/ Đắc hiện pháp lạc trụ. 2/ Đắc thắng tri kiến 3/ Đắc phân biệt tuệ 4/ Tận chú phiền não. Thứ nhất “hiện pháp lạc trụ” có nghĩa là nhờ tu định mà thần tâm được an tĩnh. Thứ hai “thắng tri kiến” có nghĩa là được thần thông. Thứ ba “phân biệt tuệ” tức là thấy được tính, tướng của pháp như thế. Thứ tư “lậu tận” là được giải thoát tối cao. Khuông Việt tr. 503-504 Vậy Vạn Hạnh tu Thiền đến trình độ nào? theo khuynh hướng nào trong hai dòng Thiền Việt nam thời bấy giờ? Theo “Thiền uyển truyền đăng tập” ghi nhận về tiểu sử của Vạn Hạnh, chúng ta biết Ông là đệ tử của Tì Ni đời thứ XII. Và theo “Việt sử tiêu án” của Ngô Thời Sĩ thì “Vạn Hạnh có kiến thức cao siêu, thần toán “biết trước mọi việc, cũng là tay xuất sắc trong giới thiền. Nhưng mà hay xách ẩn hành quái chỉ tu luyện về đạo, tạo ra các câu sấm lưu truyền làm mê hoặc cho đời, mở mào ác nghiệp cho đời sau.”- “Việt sử tiêu án” tr. 113 bản dịch Văn hóa Á châu” – Saigon 1960 Ở “Thiền uyển” cũng viết “ Thời bấy giờ thường nói ra lời nào ắt thành lời “phù sấm” tiên tri. Vua Lê Đại Hành 981 rất kính trọng. Năm đầu niên hiệu Thái phúc tướng nhà Tống là Hầu Nhân Bảo sang xâm chiếm, đóng quân ở Cường giáp trấn Lạng sơn. Vua triệu vào hỏi về thắng bại. Sư Vạn Hạnh tâu “trong ba bảy ngày, giặc ắt phải thoái lui”, sau quả nhiên đúng. “Đến khi Vua muốn đánh Chiêm thành, triều nghị chưa quyết định, Sư xin khởi hành gấp thì không mất dịp may. Sau đi đánh quả nhiên thắng như lời tiên đoán. Thường có kẻ gian tên là Đỗ Ngàn muốn ngầm hại sư, sư biết trước việc xẩy ra, gửi cho kẻ gian bài kệ rằng Thổ, mộc, tướng. sinh Ngân dữ Kim. Vì hà mưu Ngã uẩn linh khâm? Đương thời Ngủ, Khẩu, Thu Tâm, tuyệt Chân chí vị lai bất hận tâm. Nghĩa Đất, Cây sinh ra nhau cũng như Bạc với Vàng. Vì đâu ngầm ấp ủ trong lòng làm hại ta? Lúc này lòng ta buồn hết sức. Thật đến kiếp sau không có lòng oán hận. Tên Ngân gian sợ bèn thôi. Đấy tài biết trước, xem việc đã qua cũng như thế rất nhiều.” Như vậy thì phải chăng Vạn Hạnh đã nhờ công phu tu luyện Thiền định đến trình độ thần thông nghĩa là đến cấp thiền định thứ II “ Đắc thắng tri kiến” như nói ở A tỳ Đạt ma trên kia? Rồi từ đấy Sư không vào rừng núi như Pháp Hiền hay ngồi nhìn vách như Vô Ngôn Thông, mà đem tài thần thông để đào luyện vua Lý Thái Tổ bấy giờ là còn là Lý Công Uẩn trở nên một vị vua khai sáng quốc gia. Và Thiền sư Vạn Hạnh đã ứng dụng cái tài “thắng tri kiến” để tạo thời thế bằng những lời sấm tiên tri ngõ hầu ảnh hưởng vào tâm lý xã hội đương thời. Như vậy thì tinh thần Thiền Vạn Hạnh không phải cầu giải thoát cho mình, cũng không phải lãnh đạm với xã hội để hướng ra thiên nhiên để sống ưu du. Thiền của Vạn Hạnh là thiền hành động thực tế phụng sự dân tộc, “không phải như bọn ngoại đạo bảo mắt không nhìn sắc, tai không nghe tiếng, mà vẫn cứ nhìn, vẫn cứ nghe nhưng nhìn nghe đúng như thực, nghĩa là không ham đắm, không chấp trước, không để mình bị kẹt cứng trong cái mình thấy, nghe hay biết, mà luôn luôn nhìn nghe với tinh thần nghìn nghe tuyệt đối ; đó mới là chỗ cực trì của Thiền. Thần thông cũng ở đó mà ra. Mà ý nghĩa tu thiền chân chính cũng ở đó. Bởi thế, nếu nói một cách cùng cực thì Thiền chân chính không phải chỉ khi nào ngồi xếp bằng ngay ngắn trong rừng sâu núi thẩm, hoặc giữa đồng không hoang vắng mà tư duy mới là Thiền, mà ngay trong đời sống hàng ngày, có thể nói nhất cử nhất động đi, đứng, nằm , ngồi, tất cả không xa rời Thiền. Nội tâm định chi thiền. Rồng Phật đi, đứng, đều định ; ngồi định, nằm cũng định, không lúc nào Rồng Phật không định nó là pháp thường của Rồng Phật. – Theo Kimura Taiken – sách dẫn trên. Bởi cái tinh thần dân tộc của Vạn Hạnh, hành động với tâm vô tư, luôn luôn “ ưu thời mẫn thế” lúc nào cũng thắc mắc lo lắng đến thời thịnh trị “ an cư lạc nghiệp” của nhân dân, nên mới tha thiết nói với Lý Công Uẩn “Gần đây, tôi thấy lời sấm lạ, biết rằng nhà Lê tất phải mất, mà nhà Lý tất phải lên. Họ Lý không ai nhân trì, khoan dung như ông, lại được lòng dân. Tôi đã hơn 70 tuổi, chỉ ân hận không kịp thấy đời thịnh trị mà thôi.”” – Việt sử lược II Như thế thì chúng ta có thể đoán biết rằng những lời sấm reo rắc trong dân gian cùng các điềm lạ báo trước ngày “Thành Chúa” xuất hiện chẳng phải kỳ tích gì mà là do Thiền sư Vạn Hạnh thần thông biết trước mà sáng tạo ra để sửa soạn tâm lý quần chúng cũng như ngày nay người ta rắc truyền đơn vậy. Không chỉ tâm lý xã hội các giới ở Việt nam, thời bấy giờ, sau hơn một ngàn năm chịu ảnh hưởng Nho học nhất là Nho học thời Hán phát triển cái học sấm vĩ ở kinh Dịch căn cứ nào nguyên lý siêu hình để hợp nhất nhân sinh với thiên nhiên, “Thiên Nhân hợp nhất” cho nên nhân thân là một tiểu vũ trụ, tất cả trong trời đất đều tương quan với nhau, người ta có cái tâm chí thành cũng như thần linh mà biết trước các việc sắp xảy ra “Thần tri lai, tri tàng vãng.” Bởi vậy “chí thành chi đạo khả dĩ tiền tri, quốc gia tương hưng tất hữu trinh tường, quốc gia tương vong tất hữu yêu nghiệt, kiến hồ thì quy, động hồ tứ thể, họa phúc tương chi, thiện tất tiên tri chi, bất thiện tất tiên tri chi, cố chi thành như thần” Trung Dung. Nghĩa là “Đạo chí thành thì có thể biết trước, nước sắp thịnh vượng ắt phải có điềm lành, nước sắp nguy vong ắt phải có điềm gở, hiện ra ở cỏ thi và mai rùa là dụng cụ bói toán xúc động đến chân tay ; họa phúc sắp đến điềm lành ắt biết trước được, điềm không tốt ắt biết trước được. Cho nên chí thành như thần linh vậy.” Cái tâm chí thành phù hợp với cái tâm Thiền đến trình độ không còn phân biệt đối tượng và tư lự, tâm chỉ tập vào một điểm duy nhất cetasa ekodibhava” Kimura Taiken – sách dẫn trên. Chính đây là ý nghĩa triết tự của chữ Thành gồm là lý trí, là ý chí và tình cảm ba tác dụng trí, tình, ý hợp nhất vào làm một điểm. Cái điểm ấy là ý thức “dung tam tế” như Lý Nhân Tông đã hiểu tinh thần Vạn Hạnh Vạn Hạnh dung tam tế, Chân phù cổ sấm cơ Hường quan danh Cổ pháp Trụ tích trấn vương kỳ. Vạn Hạnh thông quá khứ, hiện tại, vị lai ba cỏi, Chân thật phù hợp với lời sấm cơ xưa Quê hương có tên là Cổ pháp Chống gậy nhà Phật để bảo vệ đất nước. Vũ trụ là một dòng trôi chảy không dừng của hiện tượng sự vật, nhưng nền móng ở bên trong thì bất biến, bất dịch, luôn luôn hiện tại ví như lòng sông dưới làn nước chảy. Nền móng bản thể của sự vật như thế không có thời gian, đấy là điểm vô thời gian tâm linh, luôn luôn hiện tại ở cái nguồn “vạn vật đồng nhất thể” “Tatt tvam asi” trong tư tưởng truyền thống Đông phương. Biết về sự việc xảy ra lúc này không xác định được sự kiện. Điều người ta gọi là tiên tri của Thần linh thực ra là một sự hiểu biết không thời gian của chính lúc này nó phù hợp với sự tự do của ý chí nhân loại trong thời gian. Thế giới biểu hiện và tất cả cái gì vận động theo cách nào đều có nguyên nhân, thứ tự và hình thức của chúng ở tại nền móng bản thể bền vững tâm linh. Định mệnh hay Thiên mệnh là chính lý tinh thần nó xếp đặt tất cả. Nhưng vận mệnh hay số mệnh là một trật tự xếp đặt bản nhiên của sự vật vô thường biến hóa. Nhờ sự xếp đặt trật tự ấy mà Thiên mệnh liên hệ tất cả sự vật thành điều lý trật tự thích đáng tức là Đạo vậy. Đạo trời, Đạo đất, Đạo người. Bởi vì Thiên mệnh cũng bao hàm toàn thể tất cả sự vật dù là phức tạp khác nhau, thiên hình vạn trạng vô cùng. Nhưng số vận làm cho sự vật vận động tùy theo vị trí hình thức và thời gian. Thành thử sự diễn tiến theo thứ tự thời gian hợp nhất sự định trước của Thần linh hay là Thiên mệnh. Và chính sự hợp nhất ấy tiến hóa và phô diễn biểu hiện ra thời gian thì gọi là số vận hay Thời vận. Sự tiên tri không có chi là huyền bí hay hoang đường cả. Nếu một cá nhân có thể biết trước một sự việc sắp xảy ra, thì làm sao một ý thức vô lượng vô biên và biên như ý thức vũ trụ, Thiên địa chí tâm Dịch Kinh ý thức Tam muội Samadhi lại không biết trước việc tương lai rất xa được? Cái Ý thức vũ trụ ấy ở Ấn độ giáo cũng có nghĩa là “chit” hay “Ý thức, Thức. Người ta hoài nghi về cái hiện tại vĩnh cửu Eternel present cho rằng một trật tự trong thời gian không thể cùng có với một trật tự ngoài thời gian và một vật biến đổi không lẫn lộn với một vật bất biến như nói “Dịch nhi bất dịch”, sự hoài nghi ấy chỉ có giá trị đối với trật tự vận hành có tính cách cơ giới của sự vật vật chất của không gian. Nhưng cái Hiện tại vĩnh cửu của nhà tu Thiền, tâm linh học Mystique ngụ ý rằng “Lúc này tôi vĩnh cửu, lúc khác tôi ở tại thời gian.” A un moment, je snis eternal à un autre moment je suis dans le temps. Điều này là căn cứ vào tín ngưỡng truyền thống vào cái tối linh tính của nhân loại khiến cho Thực tại tối cao là Phật tính, là Thiên mệnh đồng nhất với linh tính ở con người “Phật tức tâm”. “Thiên mệnh chi vị tính.” “Tatt tvam asi” “ Linh khâm bảo hợp Thái hòa”. Cho nên người ta ở bình diện sinh lý thì sống trong thời gian, không gian ở bình diện tâm lý nó có thể nối với Tâm linh siêu thời gian không gian. Cái tôi ở đây có khi tự đồng nhất với Phật tính, với Thiên mệnh với Linh khâm thì nó vượt thời gian đến cái ý thức “Dung tam tế” của Vạn Hạnh, không còn quá khứ hiện tại vị lai nữa. Cái tâm trạng ấy vừa vĩnh cửu vừa hiện tại đã được nhà hành động như Nguyễn Công Trứ ở Việt nam cận đại từng kinh nghiệm mà diễn tả ra lời ca Ngã kim nhật tại tọa chi địa, Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi, Ngàn muôn năm âu cũng thế ni Ai hay hát mà ai hay nghe hát? Nguyễn Công Trứ, Vịnh Nhàn Tinh thần Vạn Hạnh hành động phụng sự dân tộc qua Lê Đại Hành đến Lý Thái Tổ tuy có công mà không nhận một chức tước gì của triều đình, chứng tỏ cái tâm Thiền đến trình độ ý thức “Dung tam tế” tức là đã đạt tới cái điểm “Vĩnh cửu hiện tại” Eternel present mà hành động vô cầu, chí công vô tư, cho nên nói theo luận điệu Thiền thì Ngài đã “liễu sinh tử” như bài kệ thị tịch sau đây chứng minh Thân như điện ảnh hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân sinh thu hựu khô, Nhậm vận thịnh suy vô bố úy, Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. Nghĩa là Thân người chớp nhoáng có rồi không, Cây cỏ xuân tươi, héo thu đông, Theo điệu vận hành hết lo lắng, Thịnh suy ngọn cỏ hạt sương trong. Xem đấy đủ thấy tinh thần Thiền của Vạn Hạnh thuộc về bậc Nhậm vận, theo cách xếp loại phép tu Thiền định của Trung hoa “Mục ngưu đồ” sau đây Tâm người ta ví như con trâu, người tu Thiền ví như người đi chăn, qua 10 giai đoạn 1 Tâm với Ý của nhà tập Thiền còn đang đi tìm nhau, trâu dại đang lồng chạy, đấy là giai đoạn chưa chăn “Vị mục”. 2 Nhà tập Thiền ví như mục đồng đã lừa bắt được trâu, xỏ thừng vào mũi lôi đi, trâu hung hăng không theo, đấy là giai đoạn “sơ điều”. 3 Trâu đã chịu theo mục đồng, nhưng mục đồng còn phải canh chừng nắm giữ, ấy là giai đoạn “Thụ chế”. 4 Trâu bắt đầu thuần phục, không phải buộc mũi nữa., nhưng mục đồng vẫn phải coi chừng tức là giai đoạn “Hồi thủ.” 5 Trâu đã thuần thục hẳn, mục đồng đi đâu trâu theo đấy ấy là giai đoạn “Thuần phục”. 6 Trâu với mục đồng tin nhau rồi, mục đồng thong thả mặc cho trâu tiêu dao, trâu vẫn không rời mục đồng, tức là giai đoạn “Vô ngại”. 7 Mục đồng đi đâu trâu theo đi đấy, hoàn toàn ăn ý với nhau như bóng với hình, tức là giai đoạn “Nhậm vận”. 8 Mục đồng với trâu là một, cả hai đều không thể phân biệt, đây là giai đoạn “Tương vong”. 9 Chỉ còn lại một cái tâm sáng chiếu tức là giai đoạn “Độc chiếu”. 10 Tâm cảnh đã biến cả rồi chỉ còn lại Chân Như tức là giai đoạn “Song dẫn”. Trong cách xếp loại trên đây trong phép tu Thiền Trung hoa thì giai đoạn Nhậm vận của Thiền sư Vạn Hạnh thuộc về giai đoạn thứ 7, ngoại vật còn, nội tâm còn, hai đàng thuận theo hòa nhịp đồng điệu vận hành không chút trở ngại lẫn nhau. Đấy là tinh thần Nhậm vận mà Vạn Hạnh đã đạt tới trước khi nhập tịch. Đấy cũng lại là quan niệm của Trang Tử về lẽ sống chết khi Trang tử viết “ Thả phù đắc giả thời dã, thất giả thuận dã, an thời như xứ thuận, ai lạc bất năng nhập dã, thử cổ chi sơ vị huyền giải”. Nghĩa là Đắc thất lai khứ là sống chết, sinh sống là thời của ta, chết đi là thuận của ta, thời là ta tụ họp, thuận là vì ta tan đi. Trời sinh ra ta có tình cảm là huyền, là trói buộc. Mặc tình nhậm vận ấy là Trời cởi trói buộc, như thế thì cứ thuận theo đạo trời, bốn mùa xuân đi lại xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng, cớ chi mà vui buồn khi người ta đã nối được đời sống cá nhân với nguồn sống vũ trụ, sinh sinh bất tuyệt. Với cái tâm hồn ấy thì Vạn Hạnh còn thắc mắc gì về sau khi thi giải sẽ đi về đâu nữa. Cho nên hết sức thản nhiên, Ngài nói với đệ tử đang khóc thương “Các con muốn đi về đâu? Ta không trụ vào chỗ có trụ, không trụ vào chỗ không có trụ!” Đấy là “nhậm vận” “ Dung tam tế” của Thiền sư Vạn Hạnh vậy. Nhờ cái biện chứng pháp toàn diện Chân Không sunyata không chấp nhận tâm linh thực nghiệm, không duy vật, không duy tâm mà vượt lên tất cả hệ thống trí thức như thế, Vạn Hạnh mới mở đường cho ý thức hệ dân tộc hướng về Đông nam Á của tinh thần văn hóa “ Đồng quai nhi thù đồ” I’Unité dans la Derersité để xây dựng nên cơ sở dân tộc độc lập và khải phóng lâu bền, “Diên Hựu” như tên chùa Một Cột đại diện cho giấc Mộng của nhà Lý vậy. NGUYỄN ĐĂNG THỤC trích Tạp chí Tư Tưởng số 6&7, năm 1972 Ngài họ Nguyễn, tên thật và năm sanh chưa thấy tài liệu nào ghi nhận. Ngài viên tịch vào năm 1018. Về sau, khi tham khảo sách Thi văn Lý – Trần, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, có ghi tên thật của ngài là Nguyễn Văn Hạnh, người ở châu Cổ Pháp, làng Dịch Bảng thuộc tỉnh Bắc Ninh. Sơ lược tiểu sử Thiền sư Vạn Hạnh Sau đây chỉ là phần tổng quát về cuộc đời tu hành đắc đạo của một bậc chân tu thạc đức mà nhiệm vụ đời đạo vẫn song toàn trong lịch sử Phật giáo Đại Việt thời Lý. Sư nối truyền dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thuộc thế hệ thứ 12. Sử liệu viết về ngài hiện còn rất ít ỏi, phần nhiều căn cứ vào quyển Đại Nam Thiền uyển đăng lục, tác phẩm đầu nhà Trần, được Trường Viễn Đông Bác Cổ đánh giá cao. Thiền sư Vạn Hạnh – nguồn internet Ngài họ Nguyễn, tên thật và năm sanh chưa thấy tài liệu nào ghi nhận. Ngài viên tịch vào năm 1018. Về sau, khi tham khảo sách Thi văn Lý – Trần, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, có ghi tên thật của ngài là Nguyễn Văn Hạnh, người ở châu Cổ Pháp, làng Dịch Bảng thuộc tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ, ngài có tư chất đĩnh đạc thông minh xuất chúng, học thông Tam tạng Kinh Luật Luận, nghiên cứu tinh tường nghĩa thú của Bách luận, là căn bản của Phật giáo Đại thừa do Bồ-tát Long Thọ trước tác. Ngài cũng nghiên cứu làu thông Tam giáo Khổng, Lão, Phật rất thông dụng vào hai triều đại Lý – Trần, cũng là cơ bản xây dựng nền văn minh cường thịnh nhất thời bấy giờ. Tuy tài đức cao rộng nhưng xem thường phú quý vinh hoa. Năm 21 tuổi, ngài theo Thiền sư Định Huệ xuất gia và thọ học với Thiền Ông Đạo Giả ở chùa Lục Tổ, làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức. Khi Thiền Ông viên tịch, ngài tiếp quản nhiệm vụ trụ trì và chuyên thiền tập pháp “Tổng trì Tam ma địa”, lấy đó làm sự nghiệp đời tu. Bấy giờ ngài nói ra điều gì dân chúng đều cho là sấm ký. Vua Lê Đại Hành rất tôn kính ngài. Qua những nét ghi lại sau đây về tiểu sử của Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta thấy một số điểm nhấn quan trọng trong tiến trình tâm linh đã un đúc tạo nên một Thiền sư siêu việt, trong toàn cảnh của lịch sử đất nước Đại Việt đương thời. Thiền uyển tập anh chỉ đề cập một điểm nhấn là ngài chuyên tu tập pháp “Tổng trì Tam ma địa” chứ không phải là cốt lõi thực chứng. Truy tìm lại Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ta thấy có bóng dáng Mật tông ở đó, mà ngài thuộc thế hệ thứ 12 của Thiền phái này. Tam ma địa, theo Trí độ luận, còn gọi là Tam muội và Thiền cũng gọi là Tam muội. Theo người viết, đây có thể là diệu dụng nào đó của việc đạt được thực ngộ Thiền, chứ không hẳn Tam ma địa là thực thể có từ bên ngoài. Như vậy hẳn nhiên ngài chứng ngộ là nhờ khai quật nội tâm bằng phương pháp Thiền định qua cửa ngõ và phương pháp hành trì của Tam ma địa. Nhờ đó, những việc làm của ngài đã làm thay đổi hướng vận động của lịch sử dân tộc, mở ra một giai đoạn phát triển mới, để lại dấu ấn cho đời sau. Thiền sư và cách hành xử đóng góp cho đời, tự tại giữa thăng trầm Ngoài việc thực chứng thực ngộ của chính bản thân, ngài còn là một nhân vật mang ánh sáng giác ngộ đi vào cuộc đời để giúp dân xây dựng một nước Việt huy hoàng rực rỡ. Sự thông tuệ của ngài chính là việc hun đúc huấn luyện và có khả năng tiên đoán được vận mệnh trước sau trong con người mà ngài muốn nhắm đến. Ngay từ khi được sự tôn kính của vua Lê Đại Hành, ngài đã tỏ ra rất xuất sắc trong việc tiên đoán sự thắng bại của quân ta. Niên hiệu Thiên Phúc năm thứ nhất 980, tướng Tống là Hầu Nhân Bảo kéo quân sang đánh nước ta, đóng binh ở Cương Giáp, Lãng Sơn. Vua Lê Đại Hành mời ngài đến hỏi Quân ta thắng bại thế nào? Sư đáp – Trong ba, bảy ngày thì giặc ắt lui. Sau đó quả đúng như lời dự đoán. Qua những điều trưng dẫn ở trên, phải chăng khả năng tiên đoán đó là nhờ nội tâm thực chứng thông suốt quá khứ, hiện tại, vị lai? Sự tương quan giữa một tâm linh với vạn vật trong vũ trụ có sẵn trong mỗi tâm thức, nếu khơi dậy đúng mức thì sơn hà đại địa nằm trong lòng bàn tay không ở đâu xa. Con người là tiểu vũ trụ có sự quan hệ tương hợp với đại vũ trụ không phải là điều huyền ảo. Nếu khai quật những bí ẩn đang nép kín thì có thể trông thấy được thế giới rộng lớn bao la bằng con mắt trí tuệ. Khả năng của Thiền sư còn sử dụng tuyệt diệu hơn trong việc đào tạo nên một nhân vật lỗi lạc mà sau này đã trở thành một vị minh quân, một vĩ nhân của dân tộc. Ngài đã đào tạo Lý Công Uẩn ngay từ lúc còn làm chú tiểu ở chùa làng Cổ Pháp, để sau này trở thành một vị vua anh minh làm tròn sứ mạng cao cả cho dân tộc. Nhờ sự giáo dục uốn nắn tài tình của ngài, Lý Công Uẩn đã thâm nhập tinh thần từ bi trí tuệ trong đạo Phật, đặt sự tồn vong của dân tộc lên trên, xây dựng một xã hội nhân bản thịnh vượng. Học giả Hoàng Xuân Hãn viết “Triều đại nhà Lý là triều đại thuần từ nhất trong lịch sử nước ta, đó là nhờ ảnh hưởng của Phật giáo”. Điều này cũng đủ cho ta thấy rằng triều đại nhà Lý được hưng thịnh có sự đóng góp của Thiền sư Vạn Hạnh là vô cùng to lớn. Ngài đã đem khả năng của mình để phục vụ nhân dân bằng cách biến những ưu tư của họ thành lẽ sống trong một đất nước tự do an lạc, tạo được ý thức dân tộc trong sự trị vì của vua hay những người trực tiếp cai trị dân, từ đó mới đem lại sự thanh bình cho người dân, nhưng coi thường công danh phú quý, không có thảm cảnh tranh giành địa vị quyền lợi. Ngài chỉ đứng trên cương vị cố vấn tham dự vào chính sự để an dân nhưng không tham quyền cố vị. Đối với ngài, Thiền môn vẫn là nơi cư trú, cơm rau đạm bạc vẫn là thức ăn hàng ngày. Ngài đi vào cuộc đời, tham dự vào chính sự trong cương vị xuất thế của mình, nhưng lại không muốn hòa mình trong ràng buộc của lợi danh, quả là “Vô hành nhi hành, vô ngôn nhi ngôn”. Ngày Lý Công Uẩn lên ngôi vua, ngài ung dung ở chùa Lục Tổ bên cạnh chén trà trong tĩnh lặng. Cái ung dung thanh thoát của ngài thể hiện ngay cuộc sống không vướng bận buộc ràng. Vì dân tộc vì chúng sanh nên phải dấn thân nhưng không bị hoen ố bởi danh lợi dục trần. Về sau, vua Lý Nhân Tông làm bài kệ truy tán ngài rằng Vạn Hạnh dung tam tếChơn phù cổ sấm kyHương quan danhCổ Pháp Trụ tích trấn vương dịchVạn Hạnh suốt ba méRất giỏi lời sấm xưaQuê hương tên Cổ PhápChống gậy vững kinh vua. Chính Thiền sư Vạn Hạnh đã thuyết phục vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La sau đổi là Thăng Long với mục đích bảo vệ nền độc lập lâu dài cho dân tộc. Theo Chiếu dời đô, thì đất Hoa Lư là nơi “thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, vạn vật không nên”. Trong khi đó đất Đại La thì “Ở giữa khu vực trời đất, có địa thế rồng quấn hổ phục, ở giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện hình thể núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh và phồn vinh”. Bằng vào những tiên đoán nhận định, ta thấy ngài ý thức mãnh liệt về sự hưng thịnh lâu bền của dân tộc. Ta có thể thấy được những nền tảng vững chãi từ những biểu tượng đặc trưng, thể hiện về mọi lĩnh vực văn học, chính trị, an ninh quốc phòng, thương mãi, đô thị. Đây là bài thi kệ nổi tiếng của Ngài Thân như điện ảnh hữu hoàn vôVạn mộc xuân vinh thu hựu khôNhậm vận thịnh suy vô bố úyThịnh suy như lộ thảo đầu dịchThân như ánh chớp có rồi khôngCỏ xuân tươi tốt thu đượm nồngMặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãiThịnh suy như cỏ giọt sương đông. Nói kệ xong, Sư bảo chúng “Các ngươi cầu trụ chỗ nào? Ta chẳng lấy chỗ trụ mà trụ, chẳng y không trụ mà trụ”. Ngừng giây lát, Sư tịch. Tượng thiền sư Vạn Hạnh Qua bài kệ trên, ta thấy sự chứng nghiệm siêu việt của ngài về cuộc đời, về sự biến đổi của vạn vật trong vũ trụ, thân phận con người mong manh có đó rồi không, mọi thứ đều giả hợp vay mượn không có sự gì, vật gì độc lập mà tồn tại. Một thời khắc đi qua là dĩ vãng, sự tàn tạ đang quấy động trong lòng là thực tại. Những gì được gọi là thịnh suy trong thế giới hữu vi cũng là vô nghĩa như thân phận con người trước cửa tử sinh. Sự hưng thịnh luôn ngầm chứa bóng dáng của suy vi, bởi lẽ, đó không phải là thực thể thoát ra ngoài chi phối của thời – không. Chính với thái độ đó đã đưa đến hành xử của ngài, khi đất nước và dân tộc đã thịnh vượng, ngài đã trở về với cái ban đầu mà ngài đã đến là cái “không trụ”. Thiền sư Vạn Hạnh là hình tượng thanh thoát, không dính, luôn bình thản, là triết lý sống cho muôn đời chiêm nghiệm, hướng tới và noi theo. Thích Thông Huệ What's your reaction?0Cool0Bad0Happy0Sad

tiểu sử thiền sư vạn hạnh