Người trì tụng Chú Đại bi là nhằm giúp gỡ bỏ dần nghiệp lực tham sân si của chúng sanh, tiến đến sự an lạc, mục tiêu mình muốn đến. Niệm Chú Đại Bi 5 biến đúng cách Giáo lý Phật giáo dạy chúng sanh rằng: tất cả mọi việc trên đời không có gì xảy ra một cách ngẫu nhiên, mọi sự vật, sự việc thì đều do nhân quả tuần hoàn mà nên.
Kết quả điều tra xác định nạn nhân là anh T.N.V (SN 1995), người làm anh Vương chết là ông Đ.V.M (SN 1972).
Theo luật cạnh tranh hiện hành, tố tụng cạnh tranh là gì? A. Là hoạt động của cơ quan, tổ chức theo trình tự, thủ tục giải quyết, xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của Luật cạnh tranh. B. Là hoạt động của tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục giải quyết
Tòa xét xử, tulặng án theo giấy tờ thủ tục tố tụng bốn pháp nghiêm ngặt, công bằng, nghiêm minc. Trên cửa hàng đó, cơ sở soát sổ của Đảng giải pháp xử lý kỷ phép tắc đảng theo Điều lệ. Nlỗi cầm hợp lí hơn, kỹ thuật rộng, tương xứng với hình thức pháp quyền làng hội chủ nghĩa vì chưng Đảng chỉ đạo hơn.
2. 9 lợi ích khi triển khai chiến lược CRM. 3. Những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược CRM. 3.1 Chiến lược kinh doanh. 3.2 Chiến lược khách hàng. 3.2.1 Đặc điểm của khách hàng nằm trong phân khúc. 3.2.2 Chiến lược Marketing. 3.3 Chiến lược CRM - các cấp độ
Luật tố tụng dân sự. Tổng hợp các tài liệu liên quan đến môn Luật tố tụng dân sự: đề cương ôn tập, đề thi môn tố tụng dân sự, nhận định đúng sai luật tố tụng dân sự 2015, bài tập tình huống luật tố tụng dân sự có đáp án, bài tập luật tố tụng dân sự
WNiKy. Theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 BLTTHS, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan, người tiến hành tố tụng NTHTT phải triệu tập những người có liên quan đến vụ án để tham gia tố tụng với tư cách là người tham gia tố tụng NTGTT. Việc xác định không đúng tư cách NTGTT có thể vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và sẽ dẫn đến những hậu quả nhất định. Vì vậy, việc xác định đúng tư cách của NTGTT là yêu cầu bức thiết cho xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự TTHS.1/ Xác định tư cách người tham gia tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng nhìn từ thực tế địa phươngTừ khi BLTTHS có hiệu lực thi hành cho đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng CQTHTT địa phương đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTHS về NTGTT nên đã xác định đúng tư cách của từng chủ thể, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể khi tham gia tố tụng và không có vụ án nào bị khiếu nại, tố cáo, kháng cáo sau khi bản án xét xử về tư cách tố tụng của họ và không có trường hợp CQTHTT sau trả hồ sơ cho CQTHTT trước điều tra bổ sung trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi xác định sai tư cách cạnh những mặt đạt được, trên thực tế, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của các đối tượng có liên quan của các CQTHTT hiện còn nhiều vấn đề cần sự nhận thức phù hợp với quy định của pháp luật Hình thức thể hiện việc xác định tư cách người tham gia tố tụng trong các văn bản tố tụng Trong văn bản của các cơ quan điều traTrong giai đoạn khởi tố, điều tra, tư cách NTGTT được thể hiện trong các quyết định, biên bản liên quan đến hoạt động khởi tố, điều tra như Quyết định khởi tố bị can, quyết định tạm giữ, quyết định tạm giam, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản kết luận điều tra… Trong các hình thức thể hiện này, tư cách NTGTT được thể hiện trong các quyết định, biên bản trước khi kết thúc điều tra có thể thay đổi nhưng tư cách NTGTT được thể hiện trong bản kết luận điều tra là kết quả chính thức, không thay đổi. Bởi vì, bản kết luận điều tra thể hiện sự đánh giá toàn diện của cơ quan điều tra về các vấn đề liên quan đến vụ án, trong đó có tư cách NTGTT và là văn bản đánh dấu việc kết thúc quá trình điều tra để chuyển sang giai đoạn truy thực tiễn, việc thể hiện tư cách NTGTT là người bị tạm giữ, bị can trong bản kết luận điều tra luôn đảm bảo sự rõ ràng, dễ xác định nhưng việc thể hiện tư cách những NTGTT khác lại rất chung chung. Bởi vì, trước khi trình bày lời khai của từng NTGTT ngoại trừ bị can, bản kết luận điều tra ghi toàn bộ tư cách của những người trình bày như sau“Lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanÔng Nguyễn Văn A, sinh năm, nơi cư trú… Ông A cho rằng…Ông Nguyễn Văn B, sinh năm, nơi cư trú… Ông B xác định…”.Cách thể hiện này rất khó để xác định ông A là người bị hại hay người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tương tự đối với tư cách của NTGTT cạnh đó, trong một số vụ án, phần thể hiện tư cách NTGTT trong bản kết luận điều tra lại ghi đầy đủ những NTGTT mà một vụ án thường có như Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Tuy nhiên, lời khai của những người bên dưới chỉ có thể xác định họ là người bị hại hoặc người làm chứng mà không có căn cứ nào xác định họ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự… Điều đó gây khó khăn cho việc xác định tư cách Trong văn bản của viện kiểm sátKhi vụ án được chuyển sang giai đoạn truy tố, hình thức thể hiện tư cách NTGTT được viện kiểm sát xác định thông qua biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, các quyết định tố tụng có liên quan, cáo trạng hoặc quyết định truy tố và danh sách những người cần triệu tập tham gia phiên tòa. Trong số các hình thức trên thì cáo trạng hoặc quyết định truy tố là hình thức xác định cuối cùng tư cách NTGTT trước khi chuyển hồ sơ cho tòa án để xét xử. Ngoài ra, tư cách NTGTT còn được xác định trong danh sách những người cần triệu tập ra trước phiên thực tiễn, hình thức thể hiện tư cách NTGTT trong cáo trạng hoặc quyết định truy tố của viện kiểm sát cũng tương tự như cơ quan điều tra thể hiện, tức là liệt kê tư cách NTGTT trước rồi mới ghi lời khai của từng người mà không xác định rõ tư cách của từng người kèm theo lời khai của cạnh đó, việc thể hiện tư cách NTGTT trong các văn bản chính thức của viện kiểm sát còn thể hiện sự thiếu nhất quán như Có trường hợp cáo trạng thể hiện tên, tư cách tham gia tố tụng của một người nhưng danh sách những người triệu tập ra tòa lại không có; và ngược lại, danh sách những người cần triệu tập ra tòa có tên tư cách NTGTT nhưng cáo trạng lại không thể mặt thời gian, thông thường cáo trạng được lập trước rồi mới lập danh sách những người cần triệu tập ra tòa, nhưng nhiều khi chúng có cùng thời gian ban hành. Như vậy, không rõ việc xác định tư cách NTGTT theo cáo trạng đúng hay theo danh sách những người cần triệu tập khi có sự khác nhau giữa hai văn bản này. Thiết nghĩ, khi có sự thể hiện khác nhau giữa cáo trạng hoặc quyết định truy tố với danh sách những người cần triệu tập ra tòa thì để đánh giá viện kiểm sát có xác định đúng tư cách NTGTT hay không cần căn cứ vào cáo trạng hoặc quyết định truy tố, vì đây là văn bản chính thức và đánh dấu sự kết thúc giai đoạn truy tố, chuyển sang giai đoạn xét xử khi tòa án nhận hồ sơ và thụ lý theo quy định của pháp Trong văn bản của tòa ánTrong giai đoạn xét xử sơ thẩm, tư cách NTGTT được thể hiện chủ yếu trong các quyết định, lệnh có liên quan; trong đó, quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản án là hình thức thể hiện tư cách NTGTT đầy đủ nhất. Nếu như quyết định đưa vụ án ra xét xử thể hiện toàn bộ tư cách NTGTT thì bản án chỉ đề cập đến những người mà phần quyết định của bản án có tác động đến quyền và nghĩa vụ của họ, người mà họ đại diện hay bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nên người làm chứng không được xác định trong phần đầu của bản án. Mặc dù phần đầu của bản án không thể hiện người làm chứng trong vụ án nhưng trong phần xét thấy có đề cập đến tư cách của người làm thực tế, sự thể hiện tư cách NTGTT trong quyết định đưa vụ án ra xét xử thông thường được xác định theo danh sách những người được triệu tập ra tòa của viện kiểm sát do hồ sơ chưa được nghiên cứu toàn diện, chặt chẽ và có thể thay đổi khi bản án được ban hành. Khi thảo án, nếu thấy rằng tư cách NTGTT theo quyết định đưa vụ án ra xét xử không chính xác thì thẩm phán, chủ tọa phiên tòa sẽ xác định lại và tại phiên tòa, nếu xác định đúng tư cách NTGTT đã được thể hiện như dự thảo bản án thì tư cách NTGTT sẽ được xác định như trong dự thảo bản án; còn nếu sai sẽ sửa lại cho phù nhiên, việc xác định tư cách NTGTT trước khi mở phiên tòa không đúng sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của NTGTT. Chẳng hạn, khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, nếu một người được xác định là người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự thì họ được nhận giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng nếu xác định một trong số những người này là người làm chứng thì họ chỉ được nhận duy nhất giấy triệu tập. Thêm vào đó, nếu khi thảo án xác định không đúng tư cách NTGTT thì khi phổ biến quyền và nghĩa vụ cho NTGTT cũng sẽ không đúng với quy định của BLTTHS. Chẳng hạn, một người được xác định là người làm chứng trong khi đáng lẽ họ phải được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì họ sẽ bị hạn chế một số quyền, trong đó có quyền tranh luận tại phiên tòa theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 54 BLTTHS. Cho nên, mặc dù bản án là văn bản chính thức thể hiện việc xác định tư cách NTGTT của tòa án nhưng nếu việc xác định tư cách NTGTT trước khi ban hành bản án không đúng cũng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Xác định tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong một số trường hợp cụ thể Nhầm lẫn giữa tư cách tham gia tố tụng của người bị hại, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi liên quan đến vụ án khi họ đều là cá nhânKhi nguyên đơn dân sự là cơ quan, tổ chức thì tư cách của họ dễ dàng phân biệt với người bị hại, người có quyền lợi liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, khi họ là cá nhân thì việc xác định rõ tư cách của từng đối tượng không dễ. Chẳng hạn, trong vụ án gây rối trật tự công cộng, người bị hành vi của người phạm tội gây thiệt hại về thể chất, tài sản nhưng không đủ yếu tố cấu thành tội độc lập, họ tham gia tố tụng với tư cách gì? Có ý kiến cho rằng, những người này là người bị hại vì thiệt hại của họ do hành vi của người phạm tội gây ra, nếu không xác định họ là người bị hại sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Ý kiến khác lại cho rằng, những người này không phải là người bị hại vì thiệt hại của họ không phải là đối tượng tác động của tội phạm nên họ là nguyên đơn dân tôi cho rằng, để xác định người bị thiệt hại trong trường hợp này với tư cách nào cần phải làm rõ khách thể của tội gây rối trật tự công cộng. Khách thể của tội gây rối trật tự công cộng được hiểu là trật tự, an toàn công cộng mà trực tiếp là các quy tắc sống lành mạnh cũng như hoạt động bình thường của xã hội tại những khu vực công cộng. Như vậy, quyền sở hữu tài sản, quyền bất khả xâm phạm về thân thể không phải là đối tượng tác động của tội này nên người bị thiệt hại không phải là người bị hại. Tuy nhiên, trong vụ án này, để xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng thì người phạm tội phải tác động đến quy tắc sống lành mạnh, hoạt động bình thường của xã hội, đó có thể là việc bảo đảm quyền của chủ sở hữu tài sản, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người cụ thể ở nơi công cộng. Thiệt hại của các chủ thể này cũng được xác định do tội phạm gây ra, nhưng họ không phải là người bị hại, vì họ không phải là đối tượng tác động của tội phạm. Họ cũng không phải là người có quyền lợi liên quan đến vụ án vì người có quyền lợi liên quan đến vụ án là người có lợi ích vật chất, tinh thần liên quan đến vụ án và không phải là người bị thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra. Vì vậy, việc xác định người bị thiệt hại trong vụ án này là nguyên đơn dân sự là phù hợp với lý luận và quy định của Việc xác định tư cách tham gia tố tụng của bị đơn dân sự, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng chưa rõ ràngTrong vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên có gây thiệt hại cho người khác thì các CQTHTT thường xác định cha, mẹ bị cáo là người đại diện hợp pháp cho bị cáo và là bị đơn dân sự. Tuy nhiên, không phải bất kể người chưa thành niên nào phạm tội mà có gây thiệt hại thì cha, mẹ người đó đều là bị đơn dân trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì cha, mẹ bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do bị cáo gây ra khi thực hiện hành vi phạm tội. Trách nhiệm bồi thường của cha, mẹ bị cáo với tư cách bị đơn dân sự là trách nhiệm của chính mình, không phải là trách nhiệm nhân danh bị trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì cha, mẹ bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường phần còn thiếu đối với thiệt hại do bị cáo gây ra và tham gia tố tụng với tư cách người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án vì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về bị cáo. Việc tòa án quyết định bị cáo phải bồi thường cho ai, với mức và các khoản bồi thường như thế nào ảnh hưởng đến nghĩa vụ của cha, mẹ bị cáo trong trường hợp bị cáo không đủ tài sản để bồi lưu ý, việc xác định tư cách cha, mẹ bị cáo là người chưa thành niên là bị đơn dân sự hoặc người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án không làm mất đi tư cách đại diện hợp pháp của cha, mẹ bị cáo, vì phạm vi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là người đại diện hợp pháp với nguyên đơn dân sự, người có nghĩa vụ liên quan là khác nhau. Do sự khác nhau đó, người tham gia tố tụng này không thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng khác. Với tư cách người đại diện hợp pháp, cha, mẹ bị cáo có quyền mời người bào chữa cho bị cáo; có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm liên quan đến bị cáo. Với tư cách bị đơn dân sự hoặc người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cha, mẹ bị cáo có quyền có người đại diện hợp pháp và mời người bảo vệ quyền lợi cho mình; quyền kháng cáo phần bản án, quyết định sơ thẩm liên quan đến việc bồi thường thiệt hại và nghĩa vụ của Nhầm lẫn trong việc xác định tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứngTrong các vụ án chứa mại dâm, mua bán trái phép chất ma túy và đánh bạc thì có CQTHTT xác định người mua dâm, người mua ma túy sử dụng, người tham gia đánh bạc là người làm chứng; có cơ quan lại xác định những người này là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án khi hành vi của họ không bị khởi tố về tội độc xác định đúng tư cách của người mua dâm, người đánh bạc và người mua ma túy sử dụng cần phải nắm rõ quy định của pháp luật về tư cách của từng chủ thể. Người có nghĩa vụ liên quan là người mà hành vi của họ có liên quan đến tội phạm do bị cáo thực hiện và theo pháp luật họ phải có trách nhiệm về hành vi của mình, trách nhiệm này chủ yếu là trách nhiệm vật chất. Trong khi đó, người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến vụ án và được các CQTHTT triệu tập để cung cấp thông tin về những tình tiết có liên quan đến vụ án. Như vậy, cả người làm chứng và người có nghĩa vụ liên quan đều nắm được thông tin liên quan đến vụ án. Đối chiếu với các vụ án trên, người mua dâm, người đánh bạc và người mua ma túy đều có hành vi liên quan đến tội phạm do bị cáo thực hiện; nhưng họ cần phải có điều kiện là theo quy định của pháp luật thì họ phải có trách nhiệm về hành vi của mình. Do đó, nếu hành vi của họ không được pháp luật quy định trách nhiệm thì họ không được xác định là người có nghĩa vụ liên quan mà phải được xác định là người làm Việc xác định tư cách người làm chứng, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi liên quan trong vụ án chống người thi hành công vụ còn có sự nhầm lẫnViệc xác định tư cách người thi hành công vụ bị gây thương tích nhưng không cấu thành tội độc lập trong vụ án chống người thi hành công vụ cũng có sự nhầm lẫn. Có cơ quan xác định người thi hành công vụ là người bị hại vì họ đã bị gây thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; có cơ quan xác định họ là người làm chứng; cơ quan khác lại xác định họ là người có quyền lợi liên quan. Trong ba quan điểm này, quan điểm xác định người thi hành công vụ là nguyên đơn dân sự là phù hợp vì người thi hành công vụ có thiệt hại về sức khỏe; thiệt hại này do tội phạm gây ra và họ có đơn yêu cầu bồi thường. Nếu họ không có yêu cầu bồi thường thì quyết định của CQTHTT có liên quan đến quyền và lợi ích của người này nên họ là người có quyền lợi liên quan đến vụ án. Nếu họ không bị thiệt hại về sức khỏe thì họ có thể tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng trong vụ án. Cần lưu ý, tại phiên tòa, trường hợp nếu không có căn cứ thể hiện ý chí của người thi hành công vụ bị thiệt hại có yêu cầu bồi thường hay không có yêu cầu bồi thường từ khởi tố đến xét xử thì tư cách của người thi hành công vụ vẫn là nguyên đơn dân sự và họ có quyền khởi kiện tranh chấp theo trình tự, thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu Trường hợp người đã bỏ tiền ra cứu chữa, mai táng cho người bị hại trong vụ án cố ý gây thương tích, vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộChẳng hạn, trong các vụ án xâm phạm quyền sở hữu, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm người khác, mặc dù là người đã thành niên khi thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị cáo lại không có tài sản để khắc phục thiệt hại nên tác động người thân gia đình, bạn bè hoặc người thân của họ tự nguyện bỏ tiền ra bồi thường để khắc phục hậu quả, thì tư cách của những người này cần được xác định như thế nào để đảm bảo quyền lợi của họ trong việc yêu cầu bị cáo hoàn lại số tiền đã bỏ tiễn có cơ quan xác định họ là nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Khi giải quyết vụ án, CQTHTT sẽ giải quyết cả phần chi phí cứu chữa, mai táng đã bỏ ra. Nếu có căn cứ sẽ công nhận số tiền mà chủ thể đã sử dụng vào việc cứu chữa, mai táng. Trong trường hợp này cần xác định người đã bỏ tiền cứu chữa, mai táng là người có quyền lợi liên quan đến vụ án. Trong trường hợp người bị hại chết mà chi phí này do người đại diện hợp pháp của họ bỏ ra thì xác định họ có hai tư cách vừa là người đại diện hợp pháp cho người bị hại, vừa là người có quyền lợi liên quan đến vụ Trường hợp người đã đưa tiền cho bị cáo khắc phục hậu quảĐối với trường hợp này, thực tiễn có cơ quan xác định họ là người có quyền lợi liên quan; có cơ quan không đưa họ vào tham gia tố tụng vì cho rằng họ không liên quan đến vụ án. Theo chúng tôi, trong trường hợp này, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người có trách nhiệm bồi thường, khắc phục hậu quả số tiền bồi thường lại của người khác. Khi giải quyết vụ án sẽ đề cập đến số tiền của người đã bỏ ra bồi thường. Vì vậy, phần quyết định giải quyết sẽ liên quan đến số tiền đã bỏ ra bồi thường. Do đó, cũng như người đã bỏ ra chi phí mai táng, cứu chữa cho người bị hại thì cần xác định chủ thể này là người có quyền lợi liên quan đến vụ án để đảm bảo quyền lợi của họ sau này, còn việc họ có yêu cầu bị cáo giao trả lại hay không phụ thuộc vào ý chí của Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi xác định không đúng tư cách người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sựKhi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, hồ sơ có thể bị trả để điều tra bổ sung theo quy định tại khoản 3 điều 168 trường hợp viện kiểm sát trả hồ sơ cho cơ quan điều tra, điểm c khoản 1 điều 179 trường hợp tòa án trả hồ sơ cho viện kiểm sát. Đối với tòa án sơ thẩm, bản án của cấp này có thể bị cấp phúc thẩm hủy để xét xử lại theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 250 hoặc bị cấp giám đốc thẩm hủy theo quy định tại khoản 3 điều 273 khi thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010 của liên bộ Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an, Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS TTLT số 01 được ban hành, việc xác định trường hợp nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng chưa rõ ràng, trong đó việc xác định không đúng tư cách NTGTT của CQTHTT trước có được xem là vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng để CQTHTT sau trả hồ sơ điều tra bổ sung, hủy án hay không, nên thông thường trong thực tiễn, khi CQTHTT trước xác định sai tư cách NTGTT thì CQTHTT sau sửa lại cho đúng mà không trả hồ sơ điều tra bổ sung hay hủy án. Tuy nhiên, từ khi TTLT số 01 ra đời, điểm c khoản 2 điều 4 thông tư liên tịch này đã quy định việc “xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của NTGTT trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ” là một trong những trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được quy định tại khoản 3 điều 168, điểm c khoản 1 điều 179 BLTTHS và có thể xem quy định này cũng được áp dụng cho quy định tại điểm a khoản 2 điều 250, khoản 3 điều 273 nhiên, theo điểm a khoản 3 điều 4 của TTLT số 01, không phải cứ xác định không đúng tư cách NTGTT thì CQTHTT sau có thể trả hồ sơ điều tra bổ sung, hủy án mà việc xác định không đúng này phải xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đề đặt ra là quyền và lợi ích hợp của NTGTT bị xâm phạm là người bị xác định không đúng tư cách hay NTGTT khác hay tất cả NTGTT. Bởi vì, điểm c khoản 2 điều 4 của TTLT số 01 quy định xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xác định sai tư cách trong khi điểm a khoản 3 điều 4 của TTLT số 01 lại quy định phải xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của NTGTT nói tiễn cho thấy, việc xác định sai tư cách NTGTT có thể xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xác định sai tư cách, cũng có thể NTGTT khác hoặc có thể không. Trường hợp không xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của NTGTT thì không đề cập đến. Đối với hai trường hợp còn lại, khi xác định không đúng tư cách NTGTT hoặc sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người đó hoặc NTGTT khác. Chẳng hạn, người bị thiệt hại về sức khỏe nhưng chưa đến mức bị khởi tố về tội độc lập trong vụ án gây rối trật tự công cộng nếu xác định họ là người bị hại thì họ có quyền kháng cáo bản án tăng nặng hình phạt đối với bị cáo, trong khi xác định đúng tư cách là nguyên đơn dân sự trong vụ án thì họ không có quyền này và việc xác định sai tư cách sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị việc xác định sai tư cách thì việc xác định không đúng tư cách còn bao gồm việc xác định một người không phải là NTGTT nhưng lại xác định họ là NTGTT và ngược lại. Chẳng hạn, người đứng tên trong giấy đăng ký mô tô, xe máy mà bị cáo đã sử dụng để cướp giật tài sản nhưng cơ quan điều tra không đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong khi bị cáo mua xe của họ nhưng chưa thanh toán đủ và chưa chuyển tên nên đã ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của cạnh đó, hành vi xác định không đúng tư cách của NTGTT còn phải xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của NTGTT thì mới thuộc trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Thông tư liên tịch số 01 không giải thích thêm xâm hại nghiêm trọng là như thế nào. Theo từ điển tiếng Việt, xâm phạm là “động chạm đến quyền lợi của người khác”; nghiêm trọng là “ở trong tình trạng xấu, gay go đến mức trầm trọng, có nguy cơ dẫn đến những hậu quả hết sức tai hại”3. Từ đó, xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của NTGTT được hiểu là hành vi vi phạm làm mất hoặc hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của NTGTT mà đáng ra họ phải được hưởng trọn vẹn; đồng thời, trong một số trường hợp còn gây thiệt hại cho họ. Chẳng hạn, một người là người bị hại trong vụ án nhưng cơ quan điều tra không mời người này tham gia tố tụng, làm mất quyền của họ, hay một người bị trộm cắp đồng và có đủ chứng cứ xác định là người bị hại nhưng cơ quan điều tra lại xác định họ chỉ bị chiếm đoạt đồng nên người này chỉ có thể được xác định là nguyên đơn dân sự trong vụ án và làm hạn chế quyền và lợi ích của họ. Việc xác định không đúng như hai trường hợp trên có thể gây thiệt hại cho NTGTT trong việc yêu cầu bồi thường. Như vậy, chỉ xem việc xác định không đúng tư cách NTGTT để trả hồ sơ điều tra bổ sung, hủy án khi hành vi xác định không đúng đó xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng trong vụ Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp liên quan đến việc xác định tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng Hoàn thiện pháp luật về xác định tư cách người tham gia tố tụngTừ phân tích trên, để hoàn thiện pháp luật về các vấn đề này, chúng tôi cho rằngThứ nhất, pháp luật cần xác định rõ ràng chủ thể nào là NTGTT bởi vì không như NTHTT được quy định cụ thể tại khoản 2 điều 33 BLTTHS, NTGTT không được quy định bao gồm những chủ thể nào mà chỉ quy định NTGTT là tiêu đề của chương IV BLTTHS rồi liệt kê từng loại chủ thể. Trong khi đó, ngoài từng chủ thể được quy định là tiêu đề của mỗi điều luật, trong mỗi điều luật còn quy định người đại diện hợp pháp của họ cũng tham gia tố tụng. Như vậy, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo, nguyên đơn dân sự… có phải là NTGTT hay không cũng chưa được thể hiện rõ. Vì vậy, cần giới hạn phạm vi những chủ thể được xác định NTGTT là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo, người bị hai, bổ sung vào điều 62 BLTTHS trách nhiệm xác định chính xác tư cách NTGTT của cơ quan, NTHTT để đảm bảo quyền của từng chủ thể khi tham gia vào vụ án hình ba, quy định rõ hơn hoặc có sự giải thích phù hợp đối với khái niệm của từng NTGTT như Khái niệm giữa người bị hại với nguyên đơn dân sự; người có nghĩa vụ liên quan với bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cần quy định loại trừ những chủ thể được xác định là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bị hại thì không phải là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, trừ một người có thể tham gia hai tư cách bởi vì khái niệm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mang phạm vi rất tư, bổ sung quy định về người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vào điều luật quy định về họ; đồng thời xác định đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo, người bị hại phải là đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp bị can, bị cáo ủy quyền cho người khác thuê người bào chữa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đại diện theo ủy Giải pháp về thực tiễnThứ nhất, về hình thức xác định tư cách NTGTT trong các giai đoạn tố tụng. Để có cơ sở xác định đúng tư cách NTGTT trong từng giai đoạn tố tụng, các cơ quan, NTHTT cần phải xác định rõ tư cách của mỗi chủ thể có thể kèm theo lời khai của họ trong các văn bản kết thúc các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm để cơ quan có thẩm quyền ở giai đoạn tố tụng sau biết được việc xác định tư cách của NTGTT ở giai đoạn tố tụng trước có đúng quy định pháp luật hay không. Cơ quan điều tra, viện kiểm sát cần tránh ghi gộp chung tất cả các tư cách cũng như ghi thừa tư cách NTGTT trong văn bản kết thúc giai đoạn tố tụng thuộc thẩm quyền của mình. Riêng viện kiểm sát, tránh sự sai sót trong việc xác định tư cách NTGTT trong cáo trạng hay quyết định truy tố với danh sách những người cần triệu tập đến tòa. Đối với tòa án, trước khi ban hành quyết định xét xử, thẩm phán, thư ký tòa án cần nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để xác định đúng tư cách hai, NTHTT phải nắm vững quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tư cách của từng NTGTT để dễ dàng áp dụng. Từng CQTHTT cần phải quán triệt quy định về NTGTT trong BLTTHS và văn bản hướng dẫn đến tất cả những NTHTT trong cơ quan để thống nhất áp dụng. Khi có sự hiểu khác nhau về tư cách NTGTT, các CQTHTT cần phải thống nhất khi họp phối hợp ba ngành hàng tháng hoặc có thể họp bất thường để tránh việc phải trả hồ sơ điều tra bổ sung cũng như tránh bị sửa, hủy án sau khi xét xử.
- Thực tiễn xét xử cho thấy, việc phân biệt và xác định tư cách tố tụng của Bị hại và các đương sự như Nguyên đơn dân sự, Bị đơn dân sự, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. loại người tham gia tố tụng Xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng các quy định của Bộ luật hình sự BLHS, Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS và các quy định pháp luật có liên quan; việc xác định sai tư cách người tham gia tố tụng sẽ dẫn đến quyết định sai về phần trách nhiệm dân sự, sai về quyền kháng cáo… làm cho việc giải quyết vụ án hình sự không được toàn diện, triệt để. Theo quy định tại Điều 55 BLTTHS thì có 20 loại người tham gia tố tụng trong các giai đoạn tố tụng khác nhau, bao gồm tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố. bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. bị bắt. bị tạm giữ. can. cáo. hại. đơn dân sự. đơn dân sự. có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới vụ án. làm chứng. chứng kiến. giám định. định giá tài sản. phiên dịch, người dịch thuật. bào chữa. bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố. đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác theo quy định của Bộ luật này. Tuy nhiên trong số những người tham gia tố tụng quy định như trên, chủ yếu những người sau đây tham gia tố tụng tại phiên tòa hình sự cáo. hại. đơn dân sự. đơn dân sự. có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới vụ án. làm chứng. giám định. định giá tài sản. phiên dịch, người dịch thuật. bào chữa. bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác theo quy định của BLTTHS. Việc quy định phân biệt những người tham gia tố tụng trong BLTTHS 2015 được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc giải quyết dân sự trong vụ án hình sự. Tư cách tố tụng được xác định về bản chất từ góc độ tố tụng hình sự và tố tụng dân sự. Theo quy định của BLTTHS, về bản chất pháp lý, có một số người tham gia với hai tư cách tố tụng, tùy theo từng lĩnh vực giải quyết vấn đề là hình sự hay dân sự, cụ thể Trong trường hợp bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại hoặc nguyên đơn, thì người đó tham gia tố tụng với hai tư cách Bị cáo trong lĩnh vực hình sự và Bị đơn dân sự trong lĩnh vực tố tụng dân sự; Trong trường hợp Bị hại được bồi thường thiệt hại, thì người đó tham gia với hai tư cách Bị hại trong lĩnh vực hình sự và Nguyên đơn dân sự trong lĩnh vực tố tụng dân sự. Trong các trường hợp này, căn cứ vào quy định tại BLTTHS Tòa án sẽ xác định tư cách tố tụng có quyền và nghĩa vụ bao trùm hơn, đảm bảo lợi ích của người đó cao hơn, đó là bị cáo trong trường hợp thứ nhất và bị hại trong trường hợp thứ hai. cứ để xác định tư cách tố tụng tại phiên tòa hình sự Để xác định đúng tư cách tố tụng tại phiên tòa từ thực tiễn xét xử thông thường được thực hiện theo các căn cứ sau – Quy định của BLTTHS về những người tham gia tố tụng Về Bị cáo Điều 61, Bị hại Điều 62, Nguyên đơn dân sự Điều 63, Bị đơn dân sự Điều 64, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Điều 65… – Quy định của BLTTHS về việc bồi thường hay trả lại tài sản; quy định của BLDS về việc bồi thường thiệt hại. Ví dụ, trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại… – Bản chất của tội phạm được thực hiện. Tùy theo khách thể của tội phạm, đối tượng của tội phạm, chủ thể của tội phạm là ai mà xác định có bị hại hay không; có bồi thường ngoài hợp đồng hay không và bồi thường như thế nào; ai là nguyên đơn, bị đơn dân sự… Vì vậy, định tội danh đúng là điều kiện rất quan trọng để xác định đúng tư cách tố tụng trong vụ án. định tư cách tố tụng của một số người chủ yếu tham gia tố tụng tại phiên tòa Bị can, bị cáo Theo quy định của BLTTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, từ khi Tòa án thụ lý vụ án, người bị buộc tội tham gia tố tụng với hai tư cách – Bị can Kể từ khi nhận hồ sơ, thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử; – Bị cáo Kể từ khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại Điều 284 BLTTHS quy định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án có thể yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ mà không cần phải trả hồ sơ điều tra bổ sung; đồng thời, theo Điều 60 BLTTHS thì nghĩa vụ bị can là “Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”, khác với bị cáo là “Chấp hành quyết định, yêu cầu của Tòa án” theo Điều 61 BLTTHS. Vì vậy, vấn đề đặt ra trong trường hợp này là Viện kiểm sát có quyền triệu tập, hỏi cung bị can hay không? Nếu có thì ai là người quyết định? Theo quan điểm của tác giả, qua nghiên cứu các quy định của BLTTHS thấy, trong trường hợp này, Viện kiểm sát không có quyền triệu tập, lấy lời khai của bị can vì nếu thấy cần thiết, Viện kiểm sát sẽ tiến hành hỏi tại phiên tòa. Bị hại Theo quy định của Điều 62 BLTTHS, “ Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”. Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì bị hại chỉ có thể là cá nhân hoặc là người đại diện hợp pháp của người đó, so với BLTTHS năm 2003 BLTTHS năm 2015 đã quy định mới về bị hại, theo đó bị hại bao gồm cả các nhân, cơ quan, tổ chức; Để phân biệt bị hại với nguyên đơn dân sự, chúng ta cần xác định bị hại trực tiếp bị thiệt hại khác với nguyên đơn dân sự, bị hại bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại trực tiếp hay nói cách khác đối tượng mà tội phạm hướng tới là bị hại. Từ thực tiễn cho thấy có quan điểm cho rằng đối với cơ quan, tổ chức là bị hại thì không nhất thiết phải bị thiệt hại trực tiếp, mà có thể bị thiệt hại gián tiếp. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả nếu hiểu như vậy thì rất khó để phân biệt bị hại với nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự khi cơ quan, tổ chức bị gây thiệt hại. Đây là những quy định mới để phân biệt bị hại với nguyên đơn dân sự, với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bị hại bị tội phạm gây thiệt hại trực tiếp có nghĩa là thiệt hại của bị hại phải là đối tượng tác động của tội phạm, tức là phải có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả của tội phạm; nguyên đơn bị tội phạm gây thiệt hại gián tiếp. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bị hại không bị tội phạm gây thiệt hại gián tiếp. Cùng với thiệt hại trực tiếp do tội phạm gây ra, bị hại còn có thể bị gây thiệt hại gián tiếp nữa. Ví dụ Bị hại trong tội cố ý gây thương tích, ngoài thiệt hại trực tiếp về tổn thương cơ thể, chi phí điều trị, tổn thất về tinh thần; còn có thể bị gây thiệt hại gián tiếp như thu nhập bị mất, giảm sút… Nguyên đơn dân sự Theo quy định của Điều 63 BLTTHS thì “Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Để phân biệt giữa bị hại và nguyên đơn dân sự chúng ta có thể dựa vào các đặc điểm như sau – Bị hại bị tội phạm gây thiệt hại trực tiếp, và có thể cả gián tiếp; còn nguyên đơn dân sự chỉ bị tội phạm gây thiệt hại gián tiếp. Mặc dù Điều 63 BLTTHS không quy định thiệt hại gián tiếp, nhưng điều này xuất phát từ quy định về bị hại tại Điều 62 BLTTHS; – Do bị thiệt hại gián tiếp, nên để được bồi thường thiệt hại, nguyên đơn phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại đây là quy định bắt buộc đối với nguyên đơn dân sự, tức là phải có đơn yêu cầu bằng văn bản hoặc thể hiện trong biên bản ghi lời khai thể hiện yêu cầu bồi thường thiệt hại gửi đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Như vậy, tham gia tố tụng là quyền, chứ không phải là nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự. Nếu không muốn thực hiện quyền tham gia tố tụng, cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ cần không làm đơn yêu cầu hoặc không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Còn nếu cơ quan tiến hành tố tụng muốn họ tham gia tố tụng nhằm làm sáng tỏ tình tiết vụ án thì triệu tập với tư cách là người làm chứng, nếu thỏa mãn các dấu hiệu của người làm chứng; – Nếu bị hại có các quyền, nghĩa vụ tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án cả về hình sự và dân sự; thì nguyên đơn dân sự chỉ có các quyền, nghĩa vụ tố tụng liên quan đến việc bồi thường. Do đó để xác định tư cách tố tụng đúng, cần làm rõ trong vụ án cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tội phạm gây thiệt hại trực tiếp hay gián tiếp để từ đó thực hiện các thủ tục tiếp theo. Bị đơn dân sự Theo Điều 64 BLTTHS, “Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”. Theo khái niệm trên thì bị đơn dân sự không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị can, bị cáo nhưng trong vụ án mà tội phạm có gây thiệt hại và phải bồi thường, như một số trường hợp người phạm tội không có năng lực hành vi dân sự, để đảm bảo lợi ích cho người bị thiệt hại hoặc các đảm bảo xã hội khác… thì pháp luật quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức khác phải có trách nhiệm bồi thường thay cho người phạm tội. Ví dụ Cha mẹ bồi thường cho người dưới 16 tuổi phạm tội không có tài sản riêng gây thiệt hại; chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ bồi thường trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại… Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Điều 65 BLTTHS quy định “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự”. Từ khái niệm trên có thể thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức. Theo nhận thức chung thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có các đặc điểm là họ không liên quan gì đến hành vi phạm tội được thực hiện; nhưng quyết định của Tòa án lại liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có 9 quyền từ điểm a đến điểm i, khoản 2 Điều 65 BLTTHS và có 03 nghĩa vụ điểm a, b, c khoản 3 Điều 65 BLTTHS. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người không tham gia thực hiện tội phạm và Tòa án phải giải quyết quyền lợi, tài sản của họ vì liên quan đến vụ án hình sự. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thường là chủ sở hữu tài sản, nhưng tài sản đó lại có trong tay người phạm tội; hoặc người được người phạm tội giao cho tài sản, mà tài sản đó là do phạm tội mà có…Ví dụ H mượn xe máy của K đi chơi và sử dụng xe thực hiện hành vi cướp giật. Trong trường hợp này, việc Tòa án quyết định tịch thu hay không tịch thu chiếc xe liên quan đến lợi ích của K. Vì vậy, K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Việc không liên quan gì đến tội phạm là dấu hiệu phân biệt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với những người tham gia tố tụng khác. Chúng ta không nên nhầm lẫn giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án với những người có hành vi phạm tội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc vì có lý do nào đó mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự như trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự… Theo quy định của BLTTHS thì những người này có thể được Tòa án triệu tập với tư cách là người làm chứng./. Tòa án tp Kon Tum mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự – Ảnh Đức Nhuận/ Báo KT
Tống đạt là một trong các thủ tục được thực hiện trong tố tụng. Vậy tống đạt là gì? Pháp luật quy định về tống đạt như thế nào?1. Tống đạt là gì? Tống đạt bằng hình thức nào?Tống đạt được giải thích tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 08/2020/NĐ-CP2. Tống đạt là việc thông báo, giao nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan;Đồng thời, theo Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, hiện nay, việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được thực hiện bằng các cách sau đây- Trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc người thứ ba được uỷ Bằng phương tiện điện tử; thông báo trên các phương tiện thông tin đại Niêm yết công các trường hợp có đương sự ở nước ngoài thì theo Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc tống đạt sẽ thực hiện theo các cách sau đây Theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, theo đường ngoại giao, theo dịch vụ bưu chính…Trong đó, các loại giấy tờ, văn bản cần tống đạt có thể gồm Thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời, quyết định hoặc bản án của Toà…2. Người được tống đạt có phải mất phí không?Khoản 1 Điều 33 Nghị định 08/2020/NĐ-CP nêu rõ1. Thừa phát lại tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự trong vụ án hình sự và khiếu nại, tố cáo; tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở theo hợp đồng dịch vụ tống đạt được ký kết giữa Văn phòng Thừa phát lại với Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân hợp tống đạt ngoài địa bàn cấp tỉnh hoặc ở vùng đảo, quần đảo ngoài địa bàn cấp huyện nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở thì Văn phòng Thừa phát lại có thể thỏa thuận với Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự bằng hợp đồng riêng cho từng việc cụ quy định này, việc tống đạt giấy tờ của Thừa phát lại được thực hiện theo hợp đồng dịch vụ tống đạt được ký kết giữa Văn phòng Thừa phát lại với Toà án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan thi hành án dân sự hoặc thực hiện theo thoả thuận riêng giữa các cơ quan này bằng hợp đồng cụ thể cho từng vụ hợp đồng dịch vụ tống đạt có nội dung đề cập đến chi phí tống đạt, quyền cũng như nghĩa vụ của các bên và thủ tục tống đạt… Tuy nhiên, chi phí tống đạt giấy tờ được quy định mức khung tại khoản 2 Điều 62 Nghị định 08/2020/NĐ-CP như sau- Tối thiểu đồng/ Tối đa đồng/ Chi phí thực tế nhưng không vượt quá chế độ công tác phí, tiền công ngày làm việc không vượt quá mức lương tối thiểu… nếu tống đạt giấy tờ ngoài địa bàn tỉnh hoặc đến vùng đảo, quần đảo ngoài địa bàn cấp huyện nơi Văn phòng thừa phát lại đặt trụ ý Điểm b khoản 3 Điều 62 Nghị định này có đề cập đến việc chi phí tống đạt theo quy định đương sự phải chịu. Nếu chi phí tống đạt do đương sự phải chịu thì số tiền thu được từ đương sự, Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án sẽ thu và chuyển cho Văn phòng thừa phát vậy, có thể thấy, không phải mọi chi phí tống đạt đều được lấy từ ngân sách Nhà nước mà trong một số trường hợp luật quy định, các đương sự phải có trách nhiệm chịu chi phí tống đạt Thủ tục tống đạt thực hiện như thế nào?Trình tự, thủ tục tống đạt được quy định cụ thể tại chương X Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 gồm các nội dung sau đây Văn bản phải tống đạt- Thông báo, giấy triệu tập, giấy báo, giấy Bản án hoặc quyết định của Toà Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát, văn bản của thi hành án dân Văn bản khác.Điều 171 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Người thực hiện tống đạt- Người tiến hành tố tụng hoặc của cơ quan ban hành văn bản tố tụng Viện kiểm sát, Toà án… được giao nhiệm vụ Uỷ ban nhân dân nơi người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc làm việc khi Toà án yêu Đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương Nhân viên bưu người có chức năng tống Người khác.căn cứ Điều 172 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Phương thức tống đạt- Trực tiếp, qua bưu điện, người thứ ba được uỷ Bằng phương thức điện Niêm yết công Thông báo trên phương tiện thông tin đại Phương thức khác.Căn cứ Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Trình tự tống đạtVới mỗi hình thức tống đạt khác nhau thì sẽ áp dụng trình tự, thủ tục tống đạt khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản các bước thực hiện tống đạt được thực hiện theo Điều 175 Bộ luật Tố tụng dân sự như sau- Gửi, chuyển giao văn bản cho người được tống Người được tống đạt phải ký nhận và biên bản hoặc sổ giao nhận văn bản tố Nếu không thể tống đạt trực tiếp thì sẽ thực hiện niêm yết công khai trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản chính văn bản tố tụng tại trụ sở Toà án, Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người được tống đạt cư trú hoặc cư trú cuối cùng; niêm yết bản sao tại nơi cư trú/nơi cư trú cuối cùng của người được tống đạt văn biệt, khi thực hiện niêm yết không quên lập biên bản về việc này và ghi rõ ngày, tháng, năm niêm đây là quy định giải đáp tống đạt là gì? Nếu còn thắc mắc, độc giả vui lòng liên hệ để được hỗ trợ, giải đáp.
Tố tụng là một thuật ngữ khá quen thuộc trong giai đoạn hiện nay. Hoạt động tố tụng có vai trò quan trọng trong thực tiễn đời sống con người. Vậy Tố tụng là gì? Quy định về tố tụng tại Việt Nam? Bài viết sau đây Luật Hùng Sơn sẽ chia sẻ tới bạn đọc cái nhìn tổng thể về các khái niệm về tố tụng là gì Tố tụng là gì? Khái Niệm tố tụng là gì Tố tụng là một bộ phận trong pháp luật bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến trình tự, thủ tục tranh tụng như các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng lao động, tố tụng hành chính,… Thủ tục tố tụng là một hoạt động tìm cách kích hoạt quyền lực của tòa án để thi hành một điều luật. Mặc dù thuật ngữ này có thể được định nghĩa rộng hơn hoặc hẹp hơn khi hoàn cảnh yêu cầu, nhưng đã lưu ý rằng “thủ tục tố tụng pháp lý bao gồm các thủ tục tố tụng được đưa ra bởi hoặc theo sự xúi giục của cơ quan công quyền, và kháng cáo quyết định của tòa án hoặc tòa án “. Thủ tục tố tụng nói chung được đặc trưng bởi một quy trình có trật tự, trong đó những người tham gia hoặc đại diện của họ có thể đưa ra bằng chứng ủng hộ cho yêu cầu của họ, và tranh luận để ủng hộ những diễn giải cụ thể của pháp luật, sau đó một thẩm phán, bồi thẩm đoàn hoặc nhân chứng khác đưa ra xác định các vấn đề thực tế và pháp lý. Ở Việt Nam hiện nay có 3 loại thủ tục tố tụng Thủ tục tố tụng hình sự; Thủ tục tố tụng dân sự; Thủ tục tố tụng hành chính. Các loại tố tụng ở Việt Nam Tố tụng hình sự Tố tụng hình sự được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự, được Quốc hội ban hành ngày 27/11/2015, có hiệu lực ngày 01/01/2018. Tố tụng hình sự là bao gồm những trình tự, thủ tục nhằm xem xét, đánh giá một hay nhiều hành vi cụ thể có vi phạm pháp luật hình sự hay không, người vi phạm phải chịu trách nhiệm ở khung hình phạt nào và thực hiện những thủ tục tố tụng liên quan. Tố tụng hình sự điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong quá trình tố tụng hình sự gồm cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Tố tụng dân sự Tố tụng dân sự được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, được Quốc hội ban hành ngày 25/11/2015, có hiệu lực pháp luật ngày 01/7/2016. Tố tụng dân sự là những trình tự, thủ tục khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, thông thường là những vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các yêu cầu về giải quyết việc dân sự. Mọi hoạt động tố tụng dân sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tố tụng hành chính Tố tụng hành chính được quy định tại Bộ luật tố tụng hành chính, được Quốc hội ban hành ngày 25/11/2015, có hiệu lực pháp luật ngày 01/7/2016. Tố tụng hành chính bao gồm các trình tự, thủ tục như khởi kiện hành chính, quá trình thụ lý, chuẩn bị và xét xử vụ án, thi hành án hành chính và còn giải quyết khiếu nại, tố cáo về quyết định hành chính, hành vi hành chính. Tố tụng hành chính khác với hoạt động hành chính, tố tụng hành chính không phải là hình thức giải quyết khiếu nại, tố cáo đơn thuần như hoạt động hành chính. Mọi hoạt động tố tụng hành chính của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng người tham gia tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng hành chính. Quy định pháp luật về tố tụng Quy định về thủ tục tố tụng hình sự Căn cứ vào Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tố tụng hình sự trải qua các giai đoạn như Cơ quan điều tra, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố; Sau khi điều tra, có quan có thẩm quyền phải có một trong những quyết định Khởi tố/ không khởi tố vụ án; tạm đình chỉ giải quyết. Ra cáo trạng truy tố bị can tại Tòa; trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ/ tạm đình chỉ vụ án; Thụ lý và xét xử tại Tòa án có thẩm quyền Quy định về thủ tục tố tụng dân sự Căn cứ vào Bộ luật tố tụng dân sự 2015, mọi hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện theo trình tự sau Đương sự khởi kiện vụ án/ yêu cầu giải quyết việc dân sự; Tòa án nhận đơn, xem xét và giải quyết đơn; Tòa án sẽ ra một trong các thông báo Thông báo thụ lý/ không thụ lý; sửa đổi, bổ sung; Tổ chức các buổi hòa giải, làm việc cho đương sự và chuẩn bị xét xử; Xét xử. Quy định về thủ tục tố tụng hành chính Căn cứ vào Bộ luật tố tụng hành chính 2015, thủ tục tố tụng hành chính diễn ra như sau Khởi kiện hành vi hành chính/ quyết định hành chính; Xem xét, thụ lý đơn khởi kiện; Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án sẽ ra một trong các quyết định quyết định đưa vụ án ra xét xử; tạm đình chỉ/ đình chỉ vụ án; Xét xử vụ án tại Tòa. Các nguyên tắc của tố tụng Nguyên tắc của tố tụng hình sự Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân. Suy đoán vô tội. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm. Xác định sự thật của vụ án. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự. Tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra. Trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tòa án xét xử tập thể. Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai. Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự. Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự. Kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự. Nguyên tắc của tố tụng dân sự Tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự. Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự. Bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Hòa giải trong tố tụng dân sự. Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tòa án xét xử tập thể. Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai. Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự. Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. Giám đốc việc xét xử. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Tòa án. Việc tham gia tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Bảo đảm tranh tụng trong xét xử. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự Nguyên tắc của tố tụng hành chính Tuân thủ pháp luật trong tố tụng hành chính. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và phải tuân theo pháp luật. Xét xử công khai. Thực hiện xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. Đảm bảo sự vô tư, khách quan trong tố tụng hành chính. Đảm bảo quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Đảm bảo quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện. Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trên đây là toàn bộ thông tin của công ty Luật Hùng Sơn. về “Tố tụng là gì? Quy định về tố tụng tại Việt Nam” .Nếu quý khách hàng còn bất kỳ thắc mắc gì cần được giải đáp, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi thông qua Hotline 0964 509 555 hoặc đặt lịch ở văn phòng để được các chuyên viên tư vấn trả lời một cách nhanh gọn và chính xác nhất. Cảm ơn quý khách đã theo dõi bài viết. Trân trọng! About Latest Posts Ông Hùng đã làm việc cho Hùng Sơn Law từ những ngày đầu thành lập và có hơn 6 năm kinh nghiệm trong việc tư vấn và hành nghề luật sư tại Việt Nam liên quan đến các Dự án Đầu tư Nước ngoài và Trong nước; Sáp nhập và Mua lại; Luật Doanh nghiệp; Sở hữu trí tuệ. Với những kinh nghiệm có được luật sư Hùng chắc chắn sẽ giúp bạn giải quyết những vấn đề pháp lý đòi hỏi chuyên môn cao
tư cách tố tụng là gì